Tuyên truyền

Tuyên truyền bảo vệ và phát triển rừng

1.Vai trò tác dụng của rừng:

Tục ngữ dân gian có câu: ”Rừng vàng, biển bạc”.

 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã nói: “ Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý”.

Vâng! Quả đúng như vậy:

Rừng là cái nôi của sự sống, là mái nhà chung, là nguồn sống của muôn loài. Rừng là hệ sinh thái hoàn hảo, bao gồm thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ và tre nứa có độ tán che từ 10% trở lên.

 Mỗi cây rừng là 1 nhà máy tổng hợp chất hữu cơ từ các chất khoáng, nước có trong đất và khí Cacbonic trong khí quyển dưới tác động của ánh sáng mặt trời. Cây rừng có khả năng tái sinh, vì vậy rừng có khả năng tự tái tạo.

Tài nguyên rừng là kho báu lâm sản, thổ sản; là nguồn nguyên liệu, dược liệu không dễ gì thay thế được.

Nhà cửa, các công trình xây dựng, đồ dùng gia dụng, nội thất trong mỗi công trình, nguyên liệu để làm giấy, sơn, vec-ni, dược liệu… mà con người đang sử dụng đều từ lâm sản.

Rừng đáng quý biết bao! Những giá trị về sinh khối do sinh vật rừng mang lại mà chúng ta quen gọi là lâm sản như vừa kể chỉ là phần nhỏ trong giá trị của rừng.

  Người ta đã chứng minh được rằng, trong giá trị to lớn của rừng, nếu như giá trị lâm thổ sản là 1 phần thì giá trị môi trường do rừng đem lại có giá trị gấp trăm lần hơn thế. Thật vậy:

Rừng là nhân tố góp phần hình thành đất, có tác dụng giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu, thuỷ văn. Rừng là nơi khép kín các chu trình vật chất. Rừng có vai trò chủ đạo trong việc giữ cân bằng sinh thái trên trái trái đất.

Hệ thực vật rừng là nhà máy sản xuất ôxy tự nhiên khổng lồ từ khí thải CO2 do hoạt động của con người và sinh vật thải ra. Mỗi năm, tính trung bình, 1ha rừng sản xuất ra khoảng 16 tấn ôxy cho bầu khí quyển trái đất.

Có thể nói: ” Rừng là 1 bộ phận không thể thiếu trên trái đất. Rừng duy trì sự sống của chúng ta.

*

*  *

Rừng là như vậy, nhưng nhiều người chưa hiểu hết vai trò và tác dụng lớn lao  của rừng, thiếu ý thức bảo vệ rừng.

Việc khai thác lâm sản không tuân thủ quy trình, quy phạm quản lý BVR. Nạn chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép, đặc biệt là việc đốt phá rừng làm rẫy, gây cháy rừng, cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng thiếu cơ sở khoa học, vô tình hay cố ý  là nguyên nhân đẫn đến mất rừng, gây hậu quả khôn lường.

*

*  *

Thực trạng tài nguyên rừng suy giảm thế nào?

Theo thông tin những vấn đề lý luận (số 12 - 6/2011) báo điện tử Đảng cộng sản Việt nam: “Mỗi năm trái đất mất đi 5% diện tích rừng nguyên sinh và rừng nhiệt đới. Do đó, làm cho 1/3 số loài động vật bị dồn đuổi, co cụm lại trong các vùng mà diện tích chỉ bằng 1,4% diện tích lục địa, nên chúng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.”

Trên thế giới, những năm gần đây liên tiếp xảy ra nhiều vụ cháy rừng lớn. Hàng trăm ngàn ha rừng đã bị cháy ở Oxtraylia, ở Mỹ,  ở Nga và gần chúng ta nhất là cháy rừng ở Philipin, Indonexia. Thiệt hại do cháy rừng ở những nước này lên tới nhiều tỷ đôla, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sinh hoạt của loài người.

Cháy rừng ở Nga cuối mùa hè năm 2010  làm thiệt mạng 62 người, thiêu hủy 3.200 ngôi nhà thuộc 199 điểm dân cư và gây thiệt hại vật chất lên tới hơn 12 tỷ rúp (khoảng 400 triệu USD). Thủ tướng Nga-PuTin đã phải đích thân chỉ huy chữa cháy rừng.

Ở Việt nam, vụ cháy rừng tháng 4 năm 2002 ở rừng tràm Uminh đã đi vào lịch sử với 4000ha rừng tràm bị cháy. Gần đây nhất, mùa khô 2009 - 2010 đã xảy ra 2 vụ cháy rừng lớn: Vụ cháy rừng ở Vườn quốc gia Hoàng Liên kéo dài 10 ngày cuối tháng 2 năm 2010- đúng vào dịp tết nguyên đán Canh dần đã thiêu trụi trên 700 ha rừng;

Vụ cháy rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa - Sơn La vào đầu tháng 3 năm 2010 cũng thiêu trụi trên 300 ha rừng tự nhiên quý hiếm. Trong 2 vụ cháy rừng lớn  đó, Ban chỉ đạo (BCĐ) những vấn đề cấp bách về bảo vệ rừng &phòng cháy chữa cháy rừng( PCCCR) phối hợp với Uỷ ban cứu hộ cứu nạn quốc gia đã phải huy động nhiều lực lượng phối hợp, bao gồm lực lượng tại chỗ, lực lượng xung kích tăng cường của các địa phương, lực lượng bộ đội của Quân khu 2… tham gia chữa cháy trong nhiều ngày mới khống chế và dập tắt được đám cháy.

Cháy rừng  không chỉ thiêu đốt tài sản của người làm nghề rừng mà còn thiêu đốt muôn loài đe doạ sự sống của chúng ta.

Tác hại của cháy rừng ra sao?  Có thể nói nôm na bằng thơ cho dễ nhớ như sau:              

                                    “Cháy rừng như thể cháy nhà

Cháy rừng như thể cháy da thịt mình

Cháy rừng huỷ hoại môi sinh

Cạn kiệt nguồn nước, khổ mình, khổ ta

Còn đâu mưa thuận gió hoà

Lũ quét, lũ ống, cửa nhà lìa tan

 Đất rừng sau cháy điêu tàn

Khi mưa đất lở, nước tràn ngập trôi

Còn đâu đất tốt trên đồi?

Cỏ tranh lau lách được thời đua chen

Cháy rừng đâu chỉ mất tiền?

Mất luôn sinh cảnh, thủng tầng điện ly

Hiệu ứng nhà kính thần kỳ

Băng tan tuyết chảy, tức thì nước dâng

Cháy rừng muông thú bâng khuâng

Không nơi ẩn nấp hết nguồn thức ăn”*

*

*  *

       Mất rừng, thiên nhiên giận dữ thế nào? Người đời đã tổng kết:

“Ăn của rừng rưng rưng nước mắt,

Đốt phá rừng trời ắt phạt cho.

Phạt bằng mưa lũ, hạn khô,

Phạt cho hết nước - khó khăn cấy cầy.

 Vắng chim, vắng thú vui vầy,

Hết cây gỗ tốt dựng xây cửa nhà.

Phạt bằng rừng mãi lùi xa,

  Núi thành sa mạc trơ ra, sói mòn.

Phạt đời người phá, đời con,

Phạt đến đời cháu nếu còn phá nghen!”*

*

*   *

Gây trồng và bảo vệ rừng và lợi ích:

“Cháy rừng như thể cháy nhà,

Cháy rừng như thể cháy da thịt mình.

Trồng rừng  kiến tạo môi sinh,

Nhưng khó bắt trước mô hình tự nhiên.

 Khoanh núi, bảo vệ, ưu - phiền,

 Để tự tái tạo, lâu niên mới thành.

  Trồng rừng …những loại mọc nhanh,

Là bóc lột đất, nếu: thâm canh không làm.

Vui thay, Nhà nước đã làm:

Giao rừng giao đất cho làng cho dân,

Giao cho tổ chức, cá nhân

 Hỗ trợ  kỹ thuật, cây, phân bón rừng.

*

*  *

Ăn của rừng rưng rưng nước mắt,

Kiến tạo rừng trời ắt giúp ta.

Giúp cho mưa thuận gió hoà,

Rừng về, bướm lượn chim ca vui vầy.

Trồng rừng cho gỗ dựng xây,

 Cho nguyên dược liệu, cho đầy kho lương.

 Giữ rừng lúa tốt trên nương,

Cho dòng suối chảy vấn vương tình người.

   Rừng xanh cây cối tốt tươi,

Môi trường trong sạch giúp người giúp ta.”*

   Nguyên nhân nào dẫn đến cháy rừng?

Kết quả nghiên cứu cho thấy: sự cháy chỉ xuất hiện khi có sự kết hợp đồng thời của 3 yếu tố đó là: nguồn vật liệu cháy có độ ẩm dưới 15%, đủ O2 và nguồn nhiệt đủ lớn.

Ở trong rừng, nguồn vật liệu cháy và O2 luôn sẵn có. Khi nắng nóng hoặc thời tiết khô hanh kéo dài, các lọại cỏ, cây bụi khô nỏ, tầng thảm mục trên mặt đất rừng gồm: lớp lá rụng, cành khô, thân và cành cây đổ gãy hoặc do khai thác gỗ để lại cùng với lớp mùn do vật rơi rụng của thực vật phân huỷ tạo nên, cũng khô nỏ, độ ẩm nhỏ, rất dễ bén lửa. Vì vậy, nếu có lửa trong rừng khi trời nắng nóng, hoặc thời tiết khô hanh rất dễ xảy ra cháy rừng.

Ở nước ta, nguyên nhân gây cháy rừng chủ yếu do con người sử dụng lửa bất cẩn gây ra.

Các nguyên nhân chính gây cháy rừng gồm: đốt nương làm rẫy để lửa cháy lan; sử dụng lửa bất cẩn khi bắt ong; đốt cỏ khô để cỏ non mọc phục vụ lợi ích chăn nuôi của 1số người chăn nuôi đại gia súc; trẻ em chăn trâu đốt lửa sưởi trong rừng; thả đèn trời dịp lễ tết, lửa rơi xuống gây cháy ...thậm chí chỉ vứt 1 mẩu thuốc lá khi hút xong vào rừng lúc thời tiết hanh khô... cũng gây cháy rừng.

Nguyên tắc và phương châm phòng cháy và chữa cháy rừng là gì?

Để phòng cháy và chữa cháy rừng hiệu quả phải quán triệt nguyên tắc: ”Phòng là chính, chữa cháy rừng phải khẩn trương và triệt để”. “Phương châm hành động là 4 tại chỗ”. Đó là: “lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ”.

Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng của Ủy ban nhân dân cấp xã như thế nào?

Điều 6-Nghị định 23/2006/NĐ – CP ngày 3/3/2006 đã chỉ rõ:

Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng của Ủy ban nhân dân cấp xã  gồm 11 nhiệm vụ:

1. Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi cấp xã.

2. Lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của địa phương, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đó.

3. Thực hiện việc phân định ranh giới các loại rừng trên bản đồ và trên thực địa theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

4. Thực hiện việc thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trong phạm vi địa phương và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện.

5. Thực hiện việc bàn giao rừng tại thực địa cho các chủ rừng và xác nhận ranh giới rừng của các chủ rừng trên thực địa.

Xây dựng phương án giao rừng, cho thuê rừng trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và có kế hoạch trình Ủy ban nhân dân cấp huyện đưa vào sử dụng đối với những diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê.

6. Lập và quản lý hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng và đất để trồng rừng; các hợp đồng cho thuê rừng, khoán rừng giữa tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân trong xã.

7. Hướng dẫn nhân dân thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; làm nương rẫy, định canh, thâm canh, luân canh, chăn thả gia súc theo quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt.

8. Chỉ đạo các thôn, bản và đơn vị tương đương xây dựng và thực hiện quy ước quản lý, bảo vệ, phát triển rừng; tổ chức và huy động lực lượng quần chúng trên địa bàn phối hợp với kiểm lâm, lực lượng công an, quân đội trên địa bàn phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi xâm hại rừng.

9. Kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng theo thẩm quyền.

10. Tổ chức thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

11. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc để xảy ra phá rừng trái phép, cháy rừng, mất rừng, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích ở địa phương.

Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác PCCCR thế nào?

Điều 35-Nghị định 09/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 1  năm 2006 của Chính phủ Nước cộng hoà XHCNViệt Nam về PCCCR đã chỉ rõ: 

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp theo thẩm quyền và phạm vi quản lý của mình chịu trách nhiệm về phòng cháy và chữa cháy rừng và có trách nhiệm cụ thể sau:

1. Ban hành các quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng tại địa phương.

2. Thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng.

3. Chỉ đạo, kiểm tra và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy rừng; xử lý hành chính các hành vi vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng theo thẩm quyền.

4. Hướng dẫn, chỉ đạo tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiến thức về phòng cháy và chữa cháy rừng cho nhân dân, xây dựng phong trào quần chúng tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy rừng.

5. Đầu tư ngân sách cho hoạt động phòng cháy và chữa cháy rừng; trang bị phương tiện phòng cháy và chữa cháy rừng.

6. Chỉ đạo việc xây dựng và thực tập phương án phòng cháy và chữa cháy rừng cần huy động nhiều lực lượng, phương tiện tham gia.

7. Chỉ đạo tổ chức chữa cháy rừng, điều tra nguyên nhân gây cháy rừng và khắc phục hậu quả vụ cháy rừng.

8. Quy hoạch địa điểm, đề xuất cấp đất và xây dựng doanh trại cho lực lượng phòng cháy và chữa cháy rừng.

9. Thống kê, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tình hình phòng cháy và chữa cháy rừng./.

 
 

Bí quyết dùng lửa dập lửa trong chữa cháy đồng cỏ và chữa cháy rừng

Có lẽ bạn đã từng được nghe nóiphương pháp “dùng lửa dập lửa” trong chữa cháy đồng cỏ hoặc chữa cháy rừng. Kỹ thuật thực hiện là: dùng dao quắm, máy cắt cỏ, cắt bỏ cây bụi, cỏ, thậm chí máy gạt…tạo 1 đường băng trắng bao vây trước mũi tiến của đám cháy( hoặc lợi dụng đường mòn, đường giao thông ở phía trước mũi tiến của đám cháy) làm “băng tựa” rồi chờ thời cơ châm lửa đốt vật liệu cháy từ mép băng tựa tạo đám cháy mới có mũi tiến ngược với mũi tiến của đám cháy rừng đang có xu hướng tiến nhanh về phía băng tựa đó. Ngọn lửa mới đi về phía bể lửa đang cuộn dâng, cướp đoạt "vật liệu cháy" của đám cháy lớn. Hai bức tường lửa gặp nhau, đám cháy lập tức tắt ngay, tựa như nuốt chửng nhau vậy.

Nếu cháy trảng cỏ trên thảo nguyên vào mùa cỏ khô thì phương pháp trên có thể nói là phương pháp tốt nhất,  hiệu quả nhất, để ngăn chặn kịp thời và dập tắt đám cháy một cách nhanh nhất.

Đây cũng là cách thoát hiểm của người chữa cháy rừng khi bị giặc lửa đuổi theo uy hiếp trong tình huống họ không kịp chạy thoát.

Dưới đây là đoạn trích trong cuốn tiểu thuyết “Đồng cỏ” của nhà văn Kupe, mô tả cảnh ông già bẫy muông thú cứu những người khách du lịch đang mắc nghẽn trong đám cháy trên đồng cỏ châu Mỹ khiến ta suy nghĩ:

"Đột nhiên ông già tỏ thái độ cương quyết: “Đến giờ hành động rồi” - Ông nói.

Ông hành động quá muộn rồi, ông già đáng thương ạ! - Mitliton thốt lên. Lửa chỉ còn cách chúng ta một phần tư dặm thôi, và gió đang táp những ngọn lửa đó về phía ta với một vận tốc kinh người.

À, ra thế! Lửa! Ta không thể sợ lửa. Nào các cháu! Xắn tay áo lên, cắt ngay cái đám cỏ khô này đi, để làm trơ ra một khoảng đất trống.

Trong một khoảng thời gian rất ngắn, họ đã cắt trụi được một khoảng đất đường kính 6 mét. Ông già dẫn các cô gái đến một góc của khoảng đất trống không lớn lắm đó và bảo họ lấy chăn che những quần áo dễ cháy. Sau khi đã phòng bị xong xuôi rồi, ông chạy đến góc bãi trống đối diện, nơi mà ngọn lửa man rợ, cao ngất đang điên cuồng tấn công họ, ông lấy một nắm cỏ khô nhất đặt lên giá súng rồi đốt. Nắm cỏ khô dễ cháy lập tức bùng lên. Ông già ném nắm cỏ này vào trong bụi cây cao, rồi trở về giữa bãi trống, kiên tâm chờ đợi kết quả hành động của mình. Ngọn lửa do ông già ném tới đã tham lam ngấu nghiến hết những cây khô, chỉ trong chớp mắt nó đã lan sang đám cỏ…

Lửa cháy càng ngày càng to, bắt đầu lan về ba phía. Nhưng ở phía thứ tư thì nó bị mảnh đất trống cản lại. Lửa cháy càng dữ, chỗ đất trống xuất hiện ở phía trước cũng càng được mở rộng... Sau mấy phút đồng hồ, ngọn lửa ở tất cả mọi phía đều lùi đi, chỉ còn lại những đám khói dày đặc bao vây mọi người, nhưng họ đã thoát khỏi nguy hiểm vì ngọn lửa đã điên cuồng tiến lên phía trước...

Tuy nhiên, phương pháp “dùng lửa dập tắt những đám cháy” không đơn giản như ta tưởng. Chỉ những người rất có kinh nghiệm mới có thể dùng phương pháp đốt lửa đón đầu để dập tắt lửa, nếu không càng đem lại những tai họa lớn hơn.”

Nếu bạn suy nghĩ, bạn sẽ thấy rõ vì sao làm việc đó cần phải có nhiều kinh nghiệm. Câu hỏi là “Tại sao ngọn lửa do ông già đốt lên lại có thể cháy đi đón lửa mà không cháy theo phía ngược lại trong khi gió từ phía đám cháy đang thổi tới, và đem bể lửa về phía những người lữ khách? Tưởng chừng như ngọn lửa do ông già đốt lên sẽ không đi đón bể lửa mà sẽ cháy lùi về phía sau theo đồng cỏ… và các hành khách không tài nào tránh khỏi bị thiêu chết.

Vậy, ông già bẫy muông thú có bí quyết gì?

Bí quyết là ở chỗ: ông hiểu được quy luật vật lý đơn giản là: tuy gió từ phía đồng cỏ đang cháy thổi tới đẩy đám cháy về phía những người lữ khách, nhưng ở phía trước, gần sát mặt đất, ngay gần đám cháy lớn,  có một dòng không khí chuyển động ngược trở lại đám cháy do hiện tượng đối lưu.

Thực tế chứng minh khi có cháy lớn không khí ở phía trên biển lửa bị đốt nóng thì nhẹ đi và bị đẩy lên cao, không khí ở tất cả mọi phía (nơi chưa bắt cháy) nặng hơn tràn vào thay thế.

Do đó, ở cạnh biên giới của đám  cháy lớn, nhất định có dòng không khí hút về phía đám cháy ấy. Vì thế, phải bắt tay đốt lửa để đón lửa, khi đám cháy lan gần đến nỗi đã cảm thấy có dòng không khí hút đó.

Đây cũng là lý do tại sao ông già bẫy muông thú không vội vàng đốt lửa mà bình tĩnh chờ thời cơ thích hợp. Nếu luồng không khí đó chưa xuất hiện mà đã sớm đốt cỏ thì lửa sẽ cháy lan theo phương ngược lại, khiến mọi người ở vào một tình thế vô cùng nguy hiểm. Nhưng cũng không được hành động quá chậm, bởi vì lửa sẽ xô tới quá gần.

Hiện nay, nhờ có máy thổi gió chúng ta tạo ra gió, vì vậy có thể châm lửa trên băng tựa sớm hơn mà vẫn đẩy được đám cháy mới đốt về phía đám cháy lớn khi tốc độ gió ngoài trời không lớn, nhưng cũng phải hết sức thận trọng để đảm bảo an toàn cho người đi chữa cháy./.

                                                                                              L.V.Đ

 
 

TRỒNG CỎ VETIVER CHỐNG XÓI MÒN , SẠT LỞ ĐẤT

Trong thời gian gần đây, công tác nghiên cứu chống xói mòn đường giao thông, sạt lở bờ, các biện pháp phòng chống được triển khai khắp các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu long, trong đó có biện pháp sử dụng cỏ Vetiver được quan tâm. Cỏ Vetiver đã được trồng ở một số nơi trên thế giới như:Thái lan, Ấn độ, Băngladesh.... Kết quả nghiên cứu cho thấy: cỏ Vetiver vừa có khả năng chống xói mòn, sạt lở cao vừa kiến tạo môi trường xanh, sạch.

Cỏ vetiver là một trong những giống cỏ chống xói mòn, sạt lở đất được các nhà khoa học đánh giá hiệu quả nhất hiện nay vì các đặc tính tốt như: bộ rễ phát triển nhanh, khoẻ, cắm sâu vào lòng đất hình thành một dàn cừ sống sâu 3-4m, thân cây thẳng đứng, không bò lan, phát triển tốt trên nhiều địa hình khác nhau; rễ cỏ vetiver là môi trường cố định đạm tốt, giảm phèn cho đất đặc biệt không tranh giành dinh dưỡng của đất đối với cây nông nghiệp xung quanh bên cạnh đó bộ rễ có tinh dầu mùi thơm không thích nghi với mùi vị của các loài gậm nhấm…với những đặc tính ưu việt này,  người ta đã triển khai trồng thử nghệm cỏ Vetiver cho 3 vùng sinh thái : ngọt, lợ và mặn nhằm nghiên cứu khả năng thích ứng, phát triển và chống xói mòn sạt lở  của cỏ Vetiver trên các vùng sinh thái  khác nhau, từ đó có kế hoạch nhân rộng.

Qua quá trình trồng thử nghiệm trên 3 vùng ngọt, lợ  và mặn bước đầu cho thấy : cỏ Vetiver có khả năng sinh trưởng và phát triển trên cả 3 vùng khác nhau, nhìn chung khả năng sống và phát triển khá tốt. Chiều cao cỏ Vetiver tăng nhanh sau khoảng 15 ngày trồng và đạt cao nhất vào giai đoạn 90 ngày sau khi trồng. Tốc độ đẻ nhánh của cỏ Vetiver trên vùng đất nước ngọt cao hơn vùng lợ và vùng mặn. Khả năng chống  xói mòn, sạt lở của cỏ Vetiver rất tốt do Vetiver có hệ thống rễ chùm phát triển thành mạng lưới dày đặc giữ cho đất kết dính lại đồng thời không cho đất bật ra khi gặp dòng chảy có vận tốc lớn, thân cỏ mọc thẳng đứng giảm lớp đất bị nước cuốn trôi. Bên cạnh đó, cỏ Vetiver còn có khả năng duy trì độ ẩm cho đất, hạn chế tình trạng đất bốc hơi ; cố định các kim loại nặng do khả năng hấp thu có hiệu quả các khoáng chất có độc tính từ nguồn phân bón và thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm trong đất, nước làm tăng độ phì cho đất một cách tự nhiên.

Vì hạt cỏ phải nhập ngoại giá thành cao, nên để nhân rộng quy mô trồng cỏ Vetiver, người ta có thể  dùng phương pháp tách chồi và trồng trực tiếp. Các chồi được cắt tỉa thành từng đoạn dài khoảng 20cm, có rễ dài 5cm. Ttrước khi trồng cần cắt chừa phần lá 20-25cm tính từ gốc 

Thời gian trồng tốt nhất là vào giữa mùa mưa,; Trước khi trồng đất được làm ẩm, có thể bón phân Komix nhằm hạ mặn và tăng khả năng sinh trưởng cho cây trong giai đoạn đầu.

Cỏ Vetiver nên theo dải dọc theo các mái ta-luy của tuyến đường giao thông bị sạt lở do ảnh hưởng của dòng nước mặt hoặc trồng theo dải dọc 2 bờ sông, suối, kênh rạch để chống sạt lở đất.

                                                                                                             N.S.T

 
 

Trở thành tỷ phú nhờ gây nuôi chim sinh sản

Vài năm trở lại đây, xóm Đòng, xã Nhân Thịnh, huyện Lý Nhân (Hà Nam) như tấp nập người, xe qua lại hơn khi xuất hiện trang trại nuôi chim của gia đình anh Trần Nhữ Giáp.

Đây là một mô hình trang trại mới nhưng được đầu tư xây dựng với quy mô lớn, thả nuôi nhiều loại chim quý có giá trị kinh tế cao, tạo ra một hướng đi mới cho thanh niên lập nghiệp.

Ngay từ bé, anh Giáp đã có đam mê sưu tầm và nuôi gia cầm như gà, vịt, chim bồ câu... và ước mơ về một vườn chim giữa nơi làng quê thanh bình cũng bắt đầu từ đó. Lớn lên, anh được đi nhiều nước ở Đông Nam Á, đặc biệt là những nước có nghề nuôi chim cảnh phát triển như Singapo, Thái Lan...

Nhận thấy những mô hình trang trại nuôi chim ở đây hoàn toàn có thể áp dụng tại Việt Nam, nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ quê hương anh, với sự ủng hộ của người thân, anh đã tìm mua những giống chim quý, học hỏi kinh nghiệm nuôi chim của nước ngoài đem về Việt Nam áp dụng.

Ngồi dưới chân ngôi nhà sàn nhỏ xinh tọa lạc ngay giữa vườn chim khổng lồ rợp bóng cây, anh Giáp miên man nói về nghề nuôi chim, cũng như đặc tính của từng giống, từng loài chim trong vườn. Riêng về ngôi nhà sàn cũng có nhiều điều thú vị.

Nhà được thiết kế theo kiểu kết hợp giữa kiến trúc của vùng cao đồng bằng Bắc Bộ, xung quanh nhà là những cây cầu nhỏ vắt qua ao sen, tất cả tạo nên một không gian yên tĩnh và gần gũi với thiên nhiên.

Nhớ lại thời gian đầu bắt tay vào công việc, anh Giáp vẫn còn ngán ngẩm nói: "Bắt đầu cách đây hơn chục năm, dồn hết tài sản được mấy trăm triệu tôi dành hết để mua Trĩ đầu đỏ về nuôi.

Nhưng do chưa có kinh nghiệm và điều kiện khí hậu của ta có phần khác nước khác nên chim chết, thiệt hại gần một nửa. Dần dần, được sự được sự động viên giúp đỡ của bạn bè sinh hoạt trong Hội Sinh vật cảnh Việt Nam, tôi quyết tâm phải làm thành công dự định của mình”. Quyết tâm làm bằng được, anh đã nhờ người thân xung quanh nuôi hộ với số lượng một vài con tại mỗi hộ.

Niềm vui đến với anh khi cuối năm 2008, việc nhân giống giống chim Trĩ đầu đỏ thành công như ý muốn. Tiếp tục mở rộng quy mô, đến đầu năm 2009, anh thuê lại 1 mẫu đất ruộng của người dân để làm trang trại và tiếp tục mua thêm các loài chim quý khác để nghiên cứu như công, gà lôi Hoàng Gia Anh, vịt Uyên ương, Gà 9 cựa, Trĩ đỏ khoang cổ…

Theo kinh nghiệm của anh Giáp, những loại chim quí này nuôi không khó mà lại cho thu nhập rất cao. Thức ăn, chế độ chăm sóc của chúng cũng giống như đối với chăn nuôi gà ta. Chỉ có một điều khác là chuồng trại phải có nhà lưới, thép bao bọc cho chúng khỏi bay mất. Một con Trĩ mỗi năm đẻ 2 lứa với số lượng trên dưới 100 trứng với giá thành 40 nghìn đồng/quả, thịt khoảng 400 nghìn đồng/kg, nuôi khoảng 5 tháng là có thể xuất chuồng. Sau khi khai thác trứng chim Trĩ khoảng 4 năm, Trĩ mẹ sẽ được chuyển làm chim cảnh.

Loài chim Công có thể đẻ trong thời gian 20 năm và có tuổi thọ khoảng 30 năm. Những con Công, Trĩ giống 1 tuần tuổi là có thể xuất chuồng với giá khoảng 200 nghìn đồng/con. Điều thú vị hơn là những loài chim quý được nuôi có sức đề kháng cao, lượng thức ăn cho chúng chỉ bằng một nửa nhu cầu ăn của gà cùng trọng lượng. Vì vậy, điều này hoàn toàn phù hợp với việc chăn nuôi của người dân.

Ước tính, bỏ ra 10 triệu đồng là hoàn toàn có thể nuôi với quy mô nhỏ. Hiện tại, trong trang trại của anh có tất cả 12 loài với quy mô hơn 2.000 con. Ngoài Trĩ đầu đỏ, thì việc nhân giống thành công các loài công như công Xanh, công Trắng, và đặc biệt là công Ngũ sắc là điều anh luôn tự hào.

Anh Giáp cho biết: “Việc nhân giống thành công công Ngũ sắc chính là thành công lớn nhất của mình". Công Ngũ sắc là loài công kết hợp giữa loài công Xanh và công Trắng.

Trong tự nhiên, có khi hàng nghìn con công Xanh và công Trắng may ra mới sinh sản ra được 1 con công Ngũ sắc. Năm 2008, sau khi tìm tòi nghiên cứu, anh Giáp nhân giống được một con Công Ngũ Sắc đầu tiên. Sau đó phải mất 1 năm theo dõi, thí nghiệm, anh mới tìm ra cách nhân giống loại Công này. Hiện giờ, anh đã nhân được gần 40 con. Có nhiều nơi trả tới 40 triệu đồng/con nhưng anh Giáp chưa bán.

Sở hữu một trang trại như thế, ước tính mỗi năm trừ chi phí về con giống, thức ăn… doanh thu trang trại mang lại lên tới hàng tỷ đồng. Thấy việc nuôi, nhân giống những loài chim quý không quá vất vả, lại cho lợi nhuận kinh tế cao hơn nhiều các vật nuôi truyền thống, anh đã động viên nhiều hộ gia đình mạnh dạn đầu tư, cung cấp con giống và kỹ thuật cho họ. Ở nhiều nơi, nhiều gia đình được anh đầu tư con giống, chuyển giao kỹ thuật, xử lý đầu ra. Đi đến đâu anh cũng truyền những kinh nghiệm mình có và niềm đam mê của bản thân.

Ông Trần Hữu Tân, Chủ tịch UBND xã Nhân Thịnh cho biết: Đảng uỷ, chính quyền địa phương nhận thấy đây là một mô hình hay, có thể phát triển, nhân rộng tại địa phương, là một kênh tạo việc làm cho người dân, đặc biệt là đội ngũ thanh niên trong xã. Do vậy, địa phương đã tạo điều kiện tối đa về cơ chế cho chủ trang trại hoạt động.

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  40
Hôm nay:  312
Tháng hiện tại:  8342
Tổng lượt truy cập: 88655
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:033.3846768 -  Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn