TIN TỨC & SỰ KIỆN

Ông lão người Dao sở hữu rừng lim gần chục tỷ đồng

          (PLO) - "Nhà xây xong, ô tô mua để đấy lâu ngày cũng hỏng, mà cây lim, cây trầm của tôi càng ngày càng tươi tốt. Cây lim trăm năm, các loại cây trăm năm, đời đời kiếp kiếp. Tôi làm theo lời Bác Hồ. Tôi đã xác định là trồng cho mai sau, cho con cháu thôi." - ông lão tâm sự.

          Từ năm 1969, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ về Tết trồng cây, ông Triệu Tài Cao (78 tuổi), người dân tộc Dao Thanh Phán, thôn Bằng Anh, xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ (Quảng Ninh) lên rừng tìm cây lim con mang về trồng ở khu rừng phía sau nhà. 

          Đến thập niên 80, Nhà nước thực hiện giao đất, giao rừng, ông Cao được giao chính khu rừng lim mà mình đã đổ bao mồ hôi công sức, với khoảng 30ha rừng. Trải qua vài chục năm, giờ đây rừng lim nhà ông có đến hàng trăm cây, những cây lớn có đường kính khoảng từ 50 đến 60cm. Cứ theo giá thị trường, riêng rừng lim, giờ nếu bán ông thu về chừng trên 6 tỷ đồng.

          Được giao rừng gia đình ông còn trồng thêm nhiều giống cây gỗ quý. Hiện tại, rừng của gia đình ông có khoảng 3.000 cây bầu dó, cùng các cây gỗ quý như dổi, trám, sến, táu, vàng tâm.

          Ngồi cạnh cây lim gần 50 tuổi, thân cao vút vươn thẳng tắp lên trời xanh, tán cao trùm bóng mát rượi, ông kể, từ những năm 1969, ông chăm sóc những cây rừng này như con. Kiến thức về lâm nghiệp không nhiều nhưng ông rất chịu khó mày mò học hỏi. Ngày đầu, cây mọc thưa thớt, nhưng trời không phụ công người, hạt rơi xuống, cây mọc lên, rừng cứ thế vươn lên mãi.

          Những năm 80, Nhà nước chủ trương giao đất cho dân bảo vệ, trồng rừng. Người ta thi nhau trồng keo để nhanh thu lời, còn ông vẫn giữ mảnh rừng gần 30ha, chia cho các con trồng thêm lim và cây dó bầu. Ông Cao chia sẻ "Giao rừng thì bà con không muốn đâu, bảo giao đất giao trời có cây gì đâu. Nhưng mà tôi không nghĩ thế, có đất có trời là tốt rồi, tôi cứ nhận thôi, càng nhiều càng tốt. Người ta cũng đến chặt trộm cây trầm ấy, đào củ kích. Gãy đổ cũng có, bão đổ cũng có, sét đánh cũng có nữa".

          Lấy ngắn nuôi dài, ông Cao tâm niệm, trồng cây không chỉ ngày một ngày hai, phải vì lợi ích lâu năm mà làm. Người hỏi mua, ông không bán, người bảo gàn dở, ông mặc kệ. Thậm chí không thiếu kẻ nhòm ngó, dọa đốn chặt, ông lại cùng con cháu dựng hàng rào, đi tuần bảo vệ. Ông nhớ từng cây, vết u này là do bọn trẻ con nghịch ngợm bắn ná cao su, cây này thấp là vì bị sét đánh tước vỏ.

          Đến giờ, ngọn đồi xưa đã ngút ngàn hàng trăm cây lim, hàng nghìn cây dó bầu. Nhiều cây dó bầu cho trầm hương, ông cũng để vậy, không khai thác ồ ạt. Ông Cao chỉ cho chúng tôi xem từng cây rừng, phân tích giá trị của chúng khi làm gỗ. Ông bảo bầu dó loại nhỏ có người vào trả 5 triệu mỗi cây nhưng ông chưa bán. Ông khoe giá trị của loại trầm hương nhân tạo từ cây bầu dó, nấm lim, rồi thì vàng tâm, dổi, sến, táu .v.v..

          Cây bụi dưới đất tưởng chừng vô ích nhưng lại có cây là vị thuốc quý như trà hoa vàng, ba kích…bán cho mấy ông thầy lang. Rừng của ông Triệu Tài Cao là một kho báu, nhìn đâu, nhìn cây gì cũng ra tiền. "Dân cứ bảo ông dại thế, trồng cây lâu năm làm gì. Tôi bảo, đời người ngắn ngủi ăn được bao nhiêu. Tôi ăn bao nhiêu thì tôi lấy của rừng bấy nhiêu thôi.

          Nhà xây xong, ô tô mua để đấy lâu ngày cũng hỏng, mà cây lim, cây trầm của tôi càng ngày càng tươi tốt. Cây lim trăm năm, các loại cây trăm năm, đời đời kiếp kiếp. Tôi làm theo lời Bác Hồ. Tôi đã xác định là trồng cho mai sau, cho con cháu thôi".

          Dẫn khách về căn nhà tựa lưng vào cánh rừng, ông Cao khoe 5 gian nhà đã gần 50 năm, mái ngói rêu phong cũ kỹ rợp trong bóng mát, ngày ngày đón tiếng chim lảnh lót từ rừng cây lùa vào. Ông bảo, chỉ ở đây mới có thể vài bước chân là lên thăm rừng, con mình, cháu mình cũng sẽ ở đây, sẽ giữ rừng giữ đất như ông tâm huyết.

          Hiện tại, rừng lim của gia đình ông Cao phủ xanh cả quả đồi rộng, tạo ra dưỡng khí trong lành cho dân cư xung quanh, tạo cảnh quan đặc biệt, nơi cư trú cho các loài động vật. Nếu rừng lim này tồn tại hàng trăm năm sau, giá trị của nó còn lớn hơn bởi đây là thực thể xanh tái tạo, một khu bảo tồn. Ông Cao cũng chia diện tích rừng cho 5 người con và dặn dò con cháu trong gia đình tích cực tham gia bảo vệ, chăm sóc cánh rừng để giữ rừng nguyên sinh cho đời sau. 5 người con trai của ông đều làm nhà ở quanh mé rừng, tạo thành một “hàng rào” vững chắc bảo vệ cho cánh rừng tự nhiên.

Theo http://baophapluat.vn

 
 

Tái thả Rắn hổ chúa về môi trường tự nhiên

          Sáng ngày 24/7/2018 vừa qua, Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật - Vườn quốc gia Hoàng Liên đã phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai, Hạt Kiểm lâm Hoàng Liên, cùng đại diện các ngành chức năng của huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đã tổ chức tái thả 20 cá thể rắn về môi trường tự nhiên.

 

 Chi cục Kiểm lâm Lào Cai chuyển giao ĐVHD cho Trung tâm cứu hộ.

          Theo tin từ Vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cao, sáng ngày 24/7/2018 vừa qua, Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật - Vườn quốc gia Hoàng Liên đã phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai, Hạt Kiểm lâm Hoàng Liên, cùng đại diện các ngành chức năng của huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đã tổ chức tái thả về môi trường tự nhiên, tại Vườn quốc gia Hoàng Liên thuộc địa bàn thôn Séo Mý Tỷ, xã Tả Van 20 cá thể rắn, thuộc hai loài Rắn hổ chúa (tên khoa học Ophiophagus hannah) và Rắn sọc đuôi (Orthriophis taeniurus). Đặc biệt có 01 cá thể loài Rắn hổ chúa có trọng lượng 4,2 kg, là động vật rừng thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Hình ảnh tái thả các các thể rắn về môi trường tự nhiên tại Vườn quốc gia Hoàng Liên
thuộc địa bàn thôn Séo Mý Tỷ, xã Tả Van, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.

           Được biết, toàn bộ số động vật hoang dã trên do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai phát hiện, bắt giữ từ các vụ vi phạm do mua, bán, vận chuyển trái pháp luật sau khi xử lý tịch thu tang vật đã chuyển giao tới Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật - Vườn quốc gia Hoàng Liên chăm sóc, cứu hộ. Sau thời gian chăm sóc, phục hồi các tập tính hoang dã của loài, đến nay các cá thể động vật hoang dã trên đủ điều kiện tái thả về môi trường tự nhiên.

                                                                      

                                                                                                                                                  Dương Đại Tiến - Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang

 
 

Bảo tồn linh trưởng trong mối quan hệ với rừng

          Giám đốc Chương trình Bảo tồn Voọc Cát Bà (CBLCP), Neahga Leonard, trầm ngâm trên suốt chuyến tàu chở đoàn nhà báo từ vịnh Hạ Long sang đảo Cát Bà. Phần lớn nhà báo, tham gia chuyến điền dã báo chí do Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế  (IUCN) tổ chức, biết đến vịnh Hạ Long nổi tiếng với những núi đá vôi lớn nhỏ nhiều hơn biết về đảo Cát Bà. Họ càng không biết đảo Cát Bà, khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận, có sự đa dạng sinh học rất cao, và đang che chở nhiều loài động thực vật quý hiếm trên thế giới, trong đó có một loài động vật chỉ có thể tìm thấy ở đảo Cát Bà là voọc Cát Bà.;

Voọc Cát Bà được nhận biết bằng việc thường xuyên được liệt kê trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới

          Kể từ khi rời Mỹ để đến đảo Cát Bà làm Giám đốc CBLCP từ năm 2014, ông Neahga đã thường xuyên nhận được câu hỏi “voọc là gì?”. “Một cách đơn giản, voọc là họ hàng với loài khỉ ăn lá cây, có tay dài, ngón cái nhỏ, cái đuôi dài, linh hoạt để giữ thăng bằng trong lối sống leo trèo trên cây của chúng”, ông Neahga chia sẻ trong bài blog đầu tiên về loài động vật quý hiếm này.

          Loài voọc không phải loài khỉ lớn, voọc Cát Bà chỉ lớn cỡ một đứa trẻ nhỏ, nhưng có cánh tay dài để leo trèo và một cái đuôi dài một cách ấn tượng, hơn cả chiều dài cơ thể chúng. “Biểu hiện của voọc sâu lắng và đầy tình cảm một cách đáng ngạc nhiên, như thể chúng đang cân nhắc thứ gì đó mà con người đã đánh mất, giờ đây chúng nhận thức được và thích thú về việc làm điều đó một cách tự phụ”, ông viết.

          “Voọc Cát Bà được nhận biết bằng việc thường xuyên được liệt kê trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới. Tôi không ám chỉ nguy cấp nghĩa là chỉ còn vài trăm cá thể sống sót, sự thật là cực kỳ nguy cấp khi chỉ còn một số ít sót lại”, ông Neahga nhấn mạnh. 

 

          Voọc Cát Bà đã giảm đến 98% số lượng chỉ trong vòng 50 năm, từ số lượng vốn không nhiều, 2.500-2.700 cá thể vào những năm 1960. Những năm 1990, voọc Cát Bà bị săn bắt nhiều cùng thời điểm Cát Bà trở thành điểm du lịch nổi tiếng. Hiện nay, số lượng loài này trong tự nhiên chỉ còn 60 cá thể, theo IUCN và chúng đang phải đối mặt với việc mất môi trường sinh sống với các mối đe doạ lớn nhất là nạn săn bắt trộm, việc phá rừng làm đất trồng trọt và sự phát triển du lịch ồ ạt tại đảo Cát Bà. Chuyện buồn tương tự xảy đến với các loài linh trưởng quý khác của Việt Nam.

          Việt Nam là một trong 12 quốc gia có độ đa dạng linh trưởng cao nhất thế giới. Đáng buổn là Việt Nam đứng trong top 3 quốc gia có nhiều loài kinh trưởng bị đe doạ tuyệt chủng cao nhất thế giới, đồng hạng với Indonesia, chỉ sau Madagascar, theo Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nước Việt Xanh (GreenVIET). Trong số 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng nhất trên thế giới, có 3 loài đặc hữu, chỉ có thể được tìm thấy ở Việt Nam.

          “Cực kỳ nguy cấp nghĩa là chúng đang trên bờ vực tuyệt chủng”, ông Neahga cảnh báo “có 11 loài linh trưởng đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp tại Việt Nam”. Toàn bộ số lượng của 7 loài ít nhất trong nhóm này, bao gồm vượn đen tuyền, voọc Cát Bà, vượn Cao Vít, voọc mông trắng, voọc mũi hếch, vượn đen má trắng và chà vá chân xám chỉ 2.500 cá thể.    

           Theo thống kê về hiện trạng các loài động vật nguy cấp, quý hiếm cho thấy nhiều loài đang ở mức báo động, đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao do nguyên nhân chính là việc khai thác quá mức và mất môi trường sống.

            “Không có người mua, không còn kẻ giết” là slogan nổi tiếng của chiến dịch Bảo vệ tê giác của WildAid. Trước đây, loài họ hàng gần gũi với con người thường được cho là bổ dưỡng và bị săn bắt để làm thuốc. Đã có nhiều dự án tích cực thay đổi nhận thức, mà một trong những thành công được nhiều người truyền miệng là việc thuyết phục được một thợ săn lão luyện thay đổi chiến tuyến.

          Ông Neahga  kể rằng, ông Vũ Hữu Tỉnh đã từng là người săn voọc cừ nhất đảo Cát Bà, rành rẽ từng nơi ăn chốn ở, từng thói quen của loài vật này. Nhưng giờ đây, ông Tỉnh là đội trưởng Đội chống săn trộm BVR của dự án CBLCP, vẫn dùng chính kiến thức và kinh nghiệm trước kia để phá bẫy của thợ săn, đảm bảo an toàn cho đàn voọc quý.

          Mặt khác, các tổ chức còn nỗ lực hành động, thậm chí can thiệp để giúp tăng số lượng cá thể trong loài. “Tuy nhiên, những nỗ lực can thiệp này sẽ khó có khả năng cải thiện nhiều tình hình hiện tại, vẫn có những nhóm nhỏ có khả năng biến mất trong 50 năm tới, dù có can thiệp hay không, nếu các yếu tố khác về sinh cảnh không thay đổi”, nghiên cứu của Neahga và các đồng sự tiết lộ.

           Nạn chặt phá rừng gây nên sự thu nhỏ, chia cắt về nơi sinh sống của các loài linh trưởng, và ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của chúng. Ngành gỗ thường được áp đặt là tội đồ cho việc này. “Đó là một nhận thức sai lầm. Ngành gỗ chỉ khai thác gỗ rừng trồng, gỗ có nguồn gốc. Còn gỗ rừng tự nhiên đã bị cấm sử dụng từ hơn 20 năm nay”, ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), cũng là một người ủng hộ dự án Bảo vệ linh trưởng tại Việt Nam, bày tỏ.

          Trên thực tế, diện tích rừng tăng thêm đáng kể trong hơn 20 năm qua, từ mức 28% năm 1990 lên đến 40% vào năm 2015. Việc tăng nhanh độ che phủ của rừng là một tín hiệu tốt của ngành nông lâm nghiệp, khi một nửa diện tích rừng tăng lên là rừng trồng và rừng phục hồi, cũng là nguồn cung cấp gỗ có nguồn gốc cho ngành gỗ.

          Tuy nhiên, rừng trồng lại có giá trị đa dạng sinh học không cao, cũng không hữu dụng trong việc tăng sinh cảnh và nguồn thức ăn cho các loài động vật, trong đó có voọc. Rừng tự nhiên, có tốc độ phục hồi chỉ bằng 1/6 rừng trồng, ngôi nhà của các loài động vật hoang dã, thường là rừng nhiều tầng, có giá trị đa dạng sinh học cao và tác dụng điều hoá khí hậu lớn gấp nhiều lần rừng trồng, rừng cây công nghiệp. Điều đáng lo ngại là chất lượng rừng tự nhiên tiếp tục giảm, theo báo cáo của Trung tâm Quan trắc Môi trường (CEM).

          Các hoạt động khai thác gỗ lậu, săn bắt động vật và khai thác lâm sản ngoài gỗ vẫn diễn ra tại một số địa phương. Việc này gây áp lực lớn đối với các quần thể động, thực vật hoang dã vốn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự suy thoái và chia cắt sinh cảnh. Ngoài ra, việc xây dựng các khu du lịch và mở đường giao thông tại các điểm du lịch như bán đảo Sơn Trà đã chia cắt sinh cảnh sống của đàn voọc khiến sự tách nhập đàn voọc gặp khó khăn dẫn đến khả năng thoái hóa gen vì giao phối cận huyết.

           “Điều gì sẽ đến với loài này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác ngoài nỗ lực bảo tồn của chúng tôi. Tương lai này phụ thuộc vào giáo dục, sự hỗ trợ và sự tham gia của một xã hội lớn hơn nhiều”, ông Neahga tâm sự.

           Ông Khanh cho biết: “Sẽ là không công bằng với các giống loài này vì chúng cùng tồn tại như những loài sinh vật với con người. Sẽ không công bằng với con cháu chúng ta sau này nếu chúng không được ngắm nhìn những sinh vật đẹp đẽ như vậy trong tự nhiên nữa. Chúng ta đã qua thời lo cho đủ ăn đủ mặc để bào chữa cho việc hy sinh thiên nhiên cho phát triển kinh tế. Chúng ta đã có nhận thức tốt hơn về việc làm sao có thể gìn giữ những giá trị cho con cháu sau này”.

Nguồn thiennhien.net

 
 

Chi trả dịch vụ môi trường rừng góp phần bảo vệ và phát triển rừng

      Ngày 24/9/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP, đây là chính sách mới, lần đầu tiên chi trả phí cho người trồng rừng, người bảo vệ rừng mang lại ô xy và nguồn nước cho môi trường sống

          Ngày 24/9/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP, đây là chính sách mới, lần đầu tiên chi trả phí cho người trồng rừng, người bảo vệ rừng mang lại ôxy và nguồn nước cho môi trường sống; đồng thời thu phí từ những tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ, hưởng lợi từ rừng để phục vụ chi trả.

          Mặc dù Nghị định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có hiệu lực từ năm 2010 nhưng tại tỉnh Bắc Kạn, đến năm 2013 Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng mới được thành lập. Năm 2014 kiện toàn xong nhân sự và đến năm 2015 mới thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Mới đây, thực hiện sắp xếp tinh gọn bộ máy, 03 đơn vị là Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, Quỹ phát triển đất, Quỹ Bảo vệ môi trường đã được sáp nhập thành Quỹ Phát triển đất, rừng và Bảo vệ môi trường, trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và đi vào hoạt động từ tháng 11 năm 2017.

          Ngay sau khi kiện toàn, ổn định bộ máy, Quỹ Phát triển đất, rừng và Bảo vệ môi trường (sau đây gọi tắt là Quỹ) đã khẩn trương giải ngân tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2017 trước Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018. Theo đó, tiến hành thành lập ban chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho 92.588ha rừng với hơn 10.721 chủ rừng là hộ gia đình cá nhân; 105 chủ rừng là cộng đồng thôn; 05 tổ chức là Vườn Quốc gia Ba Bể, Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, Ban CHQS huyện Ngân Sơn, Lâm trường Ba Bể, Lâm trường Ngân Sơn; 39 UBND xã thuộc 04 huyện Ba Bể, Ngân Sơn, Chợ Đồn, Pác Nặm, với tổng kinh phí chi trả năm 2017 là hơn 7 tỷ đồng.

          Trong công tác triển khai trồng rừng thay thế của các dự án có thu hồi đất rừng trên toàn tỉnh, Quỹ Phát triển đất, rừng và Bảo vệ môi trường đã phối hợp với Sở NN&PTNT trồng được 7ha cây thông Mã Vĩ tại Đồn Đèn (Ba Bể) và 13ha tại đèo Gió (Ngân Sơn). Hiện những diện tích trên đã được nghiệm thu và giao cho UBND xã Khang Ninh và Ban CHQS Ngân Sơn chăm sóc, quản lý.     

Cộng đồng thôn Ban Khang, xã Xuân Lạc (Chợ Đồn) trên đường tuần tra bảo vệ rừng.

          Theo thống kê của ngành Kiểm lâm, diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh là hơn 300.000ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 72,1%- cao nhất toàn quốc. Kế hoạch giai đoạn năm 2015 - 2020, tỉnh đặt mục tiêu trồng mới thêm 32.000ha rừng. Hiện nay mới có 02 đơn vị là Nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang và Na Hang chi trả dịch vụ môi trường rừng. Do vậy, với diện tích rừng rất lớn, đối tượng hưởng chính sách nhiều nhưng lại ít tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng nên mức chi trả rất thấp, trung bình chỉ 76.000 đồng/ha, chưa đóng góp được nhiều cho các chủ rừng trong việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng.

          Ông Mông Quốc Hùng- Phó Giám đốc Quỹ Phát triển đất, rừng và Bảo vệ môi trường cho biết: Trên địa bàn tỉnh có một số đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng nhưng tỉnh chưa thu được phí vì chưa xác định được mức sử dụng dịch vụ của các tổ chức, cá nhân. Hiện nay, chúng tôi đang phối hợp với Chi cục Kiểm Lâm, chủ rừng là tổ chức, cá nhân và các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng như các Nhà máy thuỷ điện Nặm Cắt, Tà Làng, Thượng Ân... để xác định lượng điện bán hàng năm, diện tích rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng nhằm xây dựng kế hoạch thu, trả hợp lý.

          Thực tế cho thấy, nhiều tổ chức cá nhân như HTX xuồng, các nhà nghỉ, các loại hình dịch vụ du lịch xung quanh hồ Ba Bể... đều sử dụng dịch vụ môi trường rừng nhưng lại chưa đóng phí là bất cập cần được khắc phục. Ngoài ra, nhiều đơn vị đã sử dụng dịch vụ môi trường rừng từ rất lâu nhưng Quỹ vẫn chưa lập hồ sơ để thu phí là quá chậm trễ, gây thiệt thòi cho các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ môi trường rừng.

Nguồn moitruongvadothi.vn

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  14
Hôm nay:  1311
Tháng hiện tại:  13746
Tổng lượt truy cập: 335087
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:0203.3846768 - Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn