TIN TỨC & SỰ KIỆN

Quảng Ninh bảo vệ và duy trì diện tích rừng ngập mặn

           Dự án trồng rừng ngập mặn - giảm thiểu rủi ro (RNM-GTRR) do Hội Chữ thập đỏ (CTĐ) Nhật Bản tài trợ, thực hiện ở 22 xã thuộc 8 huyện, thị xã, thành phố có diện tích đất, bãi bồi ven sông, biển của tỉnh từ năm 2007. Trải qua nhiều giai đoạn, Dự án đã góp phần bảo vệ, phát triển diện tích RNM, đồng thời tạo nguồn lợi sinh kế cho người dân.

           Từ năm 1997-2007, Dự án đã trồng 1.670ha RNM và phi lao với tỷ lệ cây trồng phát triển thành rừng đạt 58%. Từ năm 2008-2013, Dự án đã trồng được 665ha rừng tại các xã Vĩnh Trung, Hải Tiến, Hải Đông (TP Móng Cái); phường Yên Thanh (TP Uông Bí); xã Đồng Rui (huyện Tiên Yên); phường Hà An (TX Quảng Yên). Hội CTĐ tỉnh thường xuyên kiểm tra việc bảo vệ chăm sóc RNM. Qua đó, diện tích RNM tại các địa phương phát triển tương đối tốt, tỷ lệ cây sống đạt cao. Năm 2014-2015, Hội CTĐ tỉnh đã triển khai pha 4 với việc xây dựng 2 tiểu dự án: Xây dựng hệ thống thoát nước thải tại xã Bình Dương (TX Đông Triều); xây dựng hệ thống nước sạch tại phường Hải Đông (TP Móng Cái). Đồng thời thành lập mới 2 đội ứng phó cộng đồng và mở 2 lớp tập huấn cộng đồng ứng phó với thảm hoạ cho Đội thanh niên xung kích phường Hải Yên (TP Móng Cái) và phường Tuần Châu (TP Hạ Long).

Ban Quản lý Dự án kiểm tra sự sinh trưởng của rừng ngập mặn tại xã Hải Đông (TP Móng Cái).

            Giai đoạn 2016-2017, Dự án tập trung vào hỗ trợ các địa phương xây dựng kế hoạch phát triển, bảo vệ rừng dài hạn, bền vững; vận động nguồn lực cho chương trình RNM; duy trì, bảo vệ, phát triển diện tích RNM nhằm GTRR. Trong 6 tháng đầu năm 2016, Hội CTĐ tỉnh tổ chức trồng được 20ha cây trang tại xã Quảng Minh (huyện Hải Hà). Giai đoạn này, đã có nhiều cuộc họp tham vấn cấp tỉnh về công tác quản lý và bảo vệ RNM, từ đó, tạo sự đồng thuận cao giữa chính quyền, các sở, ngành, địa phương. Hội CTĐ tỉnh và Sở NN&PTNT đã ký cam kết phối hợp triển khai Dự án trồng RMN-GTRR thảm hoạ; quản lý, bảo vệ diện tích rừng do Hội CTĐ tỉnh trồng. Các hội thảo, công tác vận động chính sách, xây dựng kế hoạch vận động nguồn lực cho chương trình RNM-GTRR cũng được tổ chức, thu hút được sự quan tâm của chính quyền các cấp cũng như người dân tham gia.

            Điểm nổi bật trong giai đoạn 2016-2017 là Dự án đã triển khai nhiều hoạt động nâng cao năng lực trong phòng ngừa thảm hoạ, thích ứng với biến đổi khí hậu, diễn tập ứng phó thiên tai. Dự án đã hỗ trợ xây dựng mô hình góc “Phòng ngừa thảm hoạ - Giảm thiểu rủi ro thiên tai” tại Trường Tiểu học xã Liên Vị (TX Quảng Yên), giúp Trường có thêm điều kiện phòng ngừa ứng phó thảm hoạ, thích ứng với biến đổi khí hậu và luôn sẵn sàng cứu giúp những người gặp rủi ro hoạn nạn. Dự án còn hỗ trợ tổ chức các cuộc họp xây dựng kế hoạch diễn tập ứng phó thiên tai tại các xã thực hiện dự án; tập huấn cho các đội tình nguyện ứng phó thảm hoạ; tổ chức các đoàn công tác đi thực địa, kiểm tra RNM...

           Theo đánh giá của Hội CTĐ tỉnh, Dự án trồng RNM-GTRR giai đoạn 2016-2017 triển khai tại Quảng Ninh đã đạt được các mục tiêu đề ra. Hiệu quả lớn nhất từ Dự án là tạo sức lan toả trong tuyên truyền phòng ngừa, ứng phó thiên tai, thảm hoạ; bảo vệ và duy trì diện tích RNM đã trồng được. Thông qua Dự án, các cấp hội CTĐ và cộng đồng địa phương thu được nhiều bài học kinh nghiệm, nâng cao được năng lực phát triển chương trình hoạt động CTĐ tại địa phương, giúp người dân hiểu được lợi ích của RNM và tầm quan trọng của phòng ngừa thảm hoạ. Từ đó, giảm khả năng dễ bị tổn thương của người dân, tăng khả năng phục hồi về kinh tế và sinh kế do thảm hoạ gây ra. Các hoạt động của Dự án cũng góp phần quan trọng vào tham gia thực hiện Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng” của Chính phủ giai đoạn 2009-2020 và các hoạt động có liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay.

 Nguồn http://baoquangninh.com.vn/

 
 

Hành động khẩn cấp bảo tồn các loài linh trưởng đến năm 2025

(Moitruong.net.vn) – Hội nghị “Triển khai đề án tăng cường năng lực quản lý hệ thống khu bảo tồn và kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn các loài linh trưởng đến năm 2025, tầm nhìn 2030” do Tổng cục Lâm nghiệp – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức.

Tăng cường các biện pháp ngăn chặn săn bắt các loài linh trưởng

Đề án là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách đã được Thủ tướng chính phủ giao cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, chính quyền địa phương và ban quản lý các khu bảo tồn tổ chức thực hiện, với mục tiêu chung nhằm nâng cao năng lực quản lý hệ thống các khu bảo tồn từ cấp Trung ương đến cơ sở để đảm bảo bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học ở Việt Nam.

Nội dung trọng tâm của đề án đưa kế hoạch hành động nhằm tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật; ngăn chặn hoạt động săn bắn, bẫy bắt và buôn bán trái pháp luật đến năm 2025 giảm 70% nạn săn bắn các loài linh trưởng.

Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, đến năm 2025 hoàn thiện 1 bộ cơ sở dữ liệu về các loài linh trưởng Việt Nam để phục vụ công tác quản lý và bảo tồn các loài linh trưởng.

Việt Nam là quốc gia có khu hệ linh trưởng đa dạng cao với danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới. Do đó, Chính phủ đã ban hành triển khai “Kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn các loài linh trưởng ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030”.

Theo moitruong.net

 
 

Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam

             (Taichinh) -Ngành công nghiệp chế  biến gỗ của Việt Nam đã đạt được nhiều thay đổi tích cực trong những năm qua, sản lượng và chất lượng sản phẩm tăng cao, được tiêu thụ rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội mang lại từ hội nhập, ngành chế biến gỗ và lâm sản Việt Nam hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là sức ép cạnh tranh từ Trung Quốc, Đài Loan và các nước trong khu vực… Làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm gỗ xuất khẩu là vấn đề đang đặt ra.

No name

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

             Cơ hội và thách thức của ngành chế biến gỗ, lâm sản xuất khẩu hiện nay

             Ngành chế biến gỗ, lâm sản Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, với kim ngạch xuất khẩu luôn tăng trưởng cao, trung bình hàng năm đạt từ 6-7 tỷ USD. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong tháng 3/2017 đạt mức cao kỷ lục so với cùng kỳ những năm trước, đạt trên 713 triệu USD, tăng tới 57% so với tháng trước đó và tăng 22,31% với tháng 3/2016.

            Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt trên 518 triệu USD, tăng 66,4% so với tháng 02/2016 và tăng 22% so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung quý I/2017, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 1,78 tỷ USD, tăng tới 17,1% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt 1,29 tỷ USD, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2016, chiếm 72,64% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước…

            Với xu hướng này, xuất khẩu gỗ năm 2017 của Việt Nam dự kiến có thể đạt tới 8 tỷ USD, tăng hơn so với cả mục tiêu đề ra là 7,5 tỷ USD. Đây là một dấu mốc quan trọng góp phần giúp ngành chế biến gỗ, lâm sản Việt Nam đạt mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD gỗ trước năm 2020.

            Hoạt động xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng nhanh là do thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cùng tham gia cạnh tranh, phát triển lành mạnh. Hơn nữa, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 đã tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp phát triển.

 

              Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập và mở cửa nền kinh tế đã tạo điều kiện mở rộng thị trường, tăng giá trị xuất khẩu, khuyến khích các ngành công nghiệp phát triển, trong đó có ngành công nghiệp chế biến gỗ. Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay, ngành công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm góp phần tạo nguồn thu nhập cho đất nước nói chung và tạo công ăn việc làm cho người dân nói riêng.

            Cùng với sự phát triển của nên kinh tế đất nước, thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007), ngành chế biến và xuất khẩu gỗ đã đạt được những thành tựu to lớn cả về số lượng, chất lượng doanh nghiệp chế biến, về kim ngạch xuất khẩu và về  thị  trường tiêu thụ  sản phẩm...

             Các sản phẩm gỗ chế biến ngày càng trở nên đa dạng hơn, có mẫu mã và chất lượng sản phẩm ngày càng phù hợp hơn với cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Từ chỗ chỉ tập trung để tái xuất khẩu sang một nước thứ ba, đến nay các sản phẩm gỗ chế biến của Việt Nam đã có mặt ổn định ở trên 120-150 nước và vùng lãnh thổ  trên toàn thế giới với nhiều doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu sang các thị trường dành cho người tiêu dùng. Ngay cả các thị trường khó tính nhất, đòi hỏi chất lượng cao như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc… hiện cũng chiếm tỷ trọng hơn 50% kim ngạch xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ của Việt Nam.

            Thống kê cho thấy, trong 3 tháng đầu năm 2017, Hoa Kỳ liên tục duy trì là thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong quý I/2017, đạt trên 691 triệu USD, tăng 15,96% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 39% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của cả nước. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang hầu hết các thị trường chủ lực khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Australia đều tăng so với cùng kỳ năm 2016…

            Nhu cầu của thị trường thế giới về gỗ và sản phẩm gỗ có giá trị cao cũng là một nhân tố quan trọng để nâng cao giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam. Theo số liệu sơ bộ của Trung tâm Nghiên cứu các ngành công nghiệp (CSIL), giá trị tiêu thụ đồ gỗ toàn cầu hiện nay hơn 460 tỷ USD/năm và Việt Nam chỉ chiếm 1,65% trong số này, có nghĩa là có khoảng trống đáng kể cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng thị phần của mình.

            Nghiên cứu thị trường cho thấy, Trung Quốc tuy là nhà cung cấp các sản phẩm gỗ lớn nhất trên thế giới, chiếm 37% tổng lượng tiêu thụ của thế giới nhưng thời gian gần đây Chính phủ Trung Quốc đã cắt giảm 9% tổng lượng gỗ khai thác, tương đương 40 triệu m3 gỗ. Điều này mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc.

            Thêm vào đó, một loạt các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã và đang tiến hành ký kết cũng sẽ tạo cơ hội xuất khẩu lớn hơn cho các doanh nghiệp trong nước. Việc Việt Nam - Hàn Quốc ký kết Hiệp định thương mại tự do với Việt Nam đã giúp cho doanh thu gỗ nước ta tăng 16,6% và xuất khẩu gỗ sang nước này đạt 143,84 triệu USD. Theo Văn phòng Xúc tiến thương mại tại Hàn Quốc, nếu loại bỏ nguyên liệu thô không rõ nguồn gốc xuất khẩu trong các sản phẩm xuất khẩu, thì ngành gỗ Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội mở rộng và phát triển thị trường tại Hàn Quốc.

            Liên minh châu Âu (EU) cũng là thị trường xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 4 của Việt Nam, đạt hơn 740 triệu USD trong năm 2016. Trong năm 2017, triển vọng phát triển ngành gỗ và thủ công mỹ nghệ tại thị trường EU được dự báo tăng trưởng khả quan hơn nhờ tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) dự kiến có hiệu lực vào đầu năm 2018 và Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị rừng, thương mại gỗ và sản phẩm gỗ (VPA/FLEGT) vừa được Việt Nam và EU ký tắt vào tháng 5/2017.

 

             EVFTA và VPA/FLEGT chính là nền tảng để các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, gia tăng giá trị trao đổi thương mại đối với các mặt hàng chủ lực, trong đó có gỗ và các sản phẩm gỗ. Theo đó, thuế nhập khẩu ván ép và các sản phẩm tương tự sẽ loại bỏ thuế quan trong 3 - 5 năm; sản phẩm nội ngoại thất, mức thuế từ 2,7 - 5,7% hiện nay cũng sẽ được xóa bỏ ngay khi EVFTA có hiệu lực.

             Việc các nhà nhập khẩu lớn của thế giới chuyển hướng chiến lược đa dạng hoá thị trường nhập khẩu đồ gỗ, thay vì chỉ phụ thuộc vào một số thị trường quen thuộc trước đây cũng đang mở ra những cơ hội và tiềm năng phát triển rất lớn cho ngành chế biến gỗ Việt Nam. Theo dự báo, Việt Nam có cơ hội lớn để mở rộng thị trường gỗ và các sản phẩm gỗ trên thế giới. Nếu có giải pháp đúng và chính sách hỗ trợ hiệu quả thì các doanh nghiệp có thể xuất khẩu đạt từ 15 đến 20 tỷ USD trong 10 năm tới.

             Bên cạnh những lợi thế và thuận lợi, ngành chế biến gỗ, lâm sản Việt Nam hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Cụ thể là xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tiềm năng tuy lớn nhưng sức ép cạnh tranh đang ngày càng gia tăng, đặc biệt từ phía Trung Quốc, Đài Loan và các nước trong khu vực như Indonesia, Malaysia…

            Vì chất lượng và mẫu mã sản phẩm đồ gỗ Việt Nam còn hạn chế, chưa thật phong phú, đa dạng, do vậy còn thiếu sức cạnh tranh. Nhiều năm qua, ngành chế biến gỗ, lâm sản mặc dù phát triển nhanh nhưng không bền vững. Tăng trưởng của ngành này chủ yếu dựa vào xuất khẩu nhưng phần lớn lại chỉ là gia công, phụ thuộc nhiều vào sự đặt hàng và thiết kế mẫu mã từ khách hàng nước ngoài.

            Hiện nay, chỉ một số ít doanh nghiệp có thể chủ động đầu tư công nghệ, thiết bị và có khả năng tự sản xuất theo thiết kế, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị gia tăng. Còn lại hầu hết các cơ sở chế biến quy mô nhỏ, siêu nhỏ như hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp tác, làng nghề… thường có công nghệ thiết bị lạc hậu, khả năng quản lý hạn chế, thiếu chiến lược kinh doanh… nên sản phẩm làm ra có giá thành cao làm giảm năng lực canh tranh.

           Thách thức nữa mà các doanh nghiệp chế biến gỗ, lâm sản Việt Nam sẽ phải đương đầu trong thời gian tới, đó là phải ổn định nguồn nguyên liệu gỗ. Phần lớn nguyên liệu gỗ để chế biến phải nhập khẩu do Chính phủ cho phép khai thác rừng tự nhiên còn rất hạn chế. Thống kê sản lượng nguồn gỗ rừng trồng trong nước khai thác hằng năm hiện khoảng 20 triệu m3, trong đó có khoảng 80% nguồn gỗ này là gỗ có đường kính nhỏ được sử dụng làm nguyên liệu. Phần còn lại 20% được sử dụng sản xuất các sản phẩm đồ gỗ chủ yếu phục vụ xuất khẩu.

            Để có được nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp ổn định, bắt buộc phải triển khai đẩy mạnh các mô hình liên kết trồng rừng giữa các công ty chế biến gỗ xuất khẩu và các hộ trồng rừng. Thời gian qua, mô hình này mặc dù đã được hình thành và đã có bước phát triển đáng kể, song vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu cũng như mang lại hiệu quả cao. Các mô hình liên kết trồng rừng giữa các công ty và hộ trồng rừng vẫn còn mang tính chất tự phát, được hình thành chủ yếu do nhu cầu kết nối của công ty và hộ trồng rừng.

             Vấn đề truy xuất nguồn gốc gỗ và các trách nhiệm xã hội hiện nay cũng đang gây nên những vướng mắc lớn cho doanh nghiệp. Từ trước đến nay, các doanh nghiệp chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ của Việt Nam chỉ tập trung vào việc sản xuất tại xưởng mà chưa chú ý đến quy trình quản lý cũng như kiểm soát nguồn gốc, tính hợp pháp của nguyên liệu cũng như các yếu tố về đời sống của người lao động. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến gỗ hiện nay còn thấp, tính hợp tác và liên kết lỏng lẻo.

             Thị trường trong nước thiếu kênh phân phối, đang bị mất dần thị trường ở một số địa bàn quan trọng. Thực tế cho thấy, khi hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt là đối với thị trường EU, doanh nghiệp Việt Nam đang gặp nhiều áp lực trong việc thực hiện các quy định về chứng minh nguồn gốc xuất xứ gỗ cũng như các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội, sự thân thiện với môi trường. Trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ nước ta chưa biết phải đến cơ quan, tổ chức nào để xin cấp các chứng nhận về nguồn gốc gỗ hay những tiêu chuẩn nào có thể đáp ứng được tiêu chí về môi trường, điều kiện làm việc cho người lao động.

             Sự thay đổi trong lựa chọn sản phẩm đồ gỗ chế biến của người tiêu dùng châu Âu cũng đặt ra những thách thức lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam. Dự báo thời gian tới, người tiêu dùng EU có thể có xu hướng chuyển qua sử dụng các sản phẩm thân thiện môi trường, nhưng lại không sẵn sàng chi trả nhiều tiền.

             Điều này khiến doanh nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU không chỉ đối mặt với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp từ các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ mà còn chịu sức ép từ các khu vực sản xuất đồ gỗ mới nổi như: Đông Âu, châu Phi... trong việc ứng dụng công nghệ để tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng.

            Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm gỗ Việt Nam

            Mặc dù có những biến động về thị trường, song theo đánh giá chung, trong hơn 10 năm trở lại đây, ngành đồ gỗ của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gỗ lớn nhất Đông Nam Á và đồ gỗ là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

            Tuy nhiên, để ngành chế biến gỗ, lâm sản Việt Nam có thể mở rộng thị phần xuất khẩu hơn nữa, Nhà nước cần hoàn thiện chính sách hỗ trợ khuyến khích xuất khẩu, thực hiện chế độ khen thưởng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu có hiệu quả, chấp hành tốt pháp luật hải quan; Xây dựng chương trình xúc tiến thương mại, mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp cận được với công nghệ hiện đại; Nghiên cứu, đánh giá xu hướng thị trường, tìm kiếm đối tác theo hướng hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp tham gia hội chợ, diễn đàn thương mại gỗ quốc tế và trong nước. Nghĩa là, bên cạnh việc nghiên cứu mở rộng thị trường, cần duy trì và phát triển các thị trường truyền thống (cả thị trường trung chuyển và thị trường người tiêu dùng trực tiếp), thông qua đó uy tín và chất lượng của sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam sẽ tiếp cận nhanh hơn tới người tiêu dùng.

             Quan trọng hơn, muốn nâng cao chất lượng, số lượng các sản phẩm gỗ, Việt Nam cần phải đẩy mạnh công tác bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả. Theo đó, Nhà nước cần có chính sách đặc biệt để các doanh nghiệp có thể nhận đất trồng rừng, nếu như các địa phương làm tốt chính sách này thì đây sẽ là một trong những biện pháp để khắc phục khó khăn về nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất.

            Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ đào tạo công nhân lành nghề vì hiện nay chúng ta chỉ có 3 đến 4 trường đào tạo công nhân mỗi năm cho ra trường vài trăm công nhân, không đáp ứng nhu cầu lao động của doanh nghiệp; Đẩy mạnh hơn nữa chính sách giáo dục nghiêng về thực tế, đầu tư thêm máy móc trong trường học để sinh viên có cơ hội tiếp xúc với máy móc, họ sẽ có tay nghề vững hơn khi ra trường mà không bỡ ngỡ với những loại máy móc chuyên dùng ở các doanh nghiệp.

            Cùng với việc trồng mới các loại cây lấy gỗ cho năng suất cao, các doanh nghiệp cần tập trung phát triển công nghệ sản xuất gỗ, nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm phục vụ thị trường tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; Điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ, nhất là các sản phẩm xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng giá trị lâm sản sử dụng nguồn nguyên liệu được gây trồng trong nước, phát triển hài hòa cả sản xuất đồ gỗ ngoại thất, nội thất, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm thô, bao gồm cả dăm gỗ; Nâng cao việc quy hoạch sản phẩm theo vùng, tiểu vùng gắn với quy hoạch trồng rừng nguyên liệu để bảo đảm hiệu quả đầu tư chung.

             Bên cạnh việc xây dựng đồng bộ các chính sách phù hợp của Nhà nước, các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cũng cần chủ động đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng nguồn nhân lực cao, áp dụng công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh và xúc tiến thương mại; Thiết lập và vận hành cơ sở dữ liệu thị trường, thường xuyên cập nhật, chia sẻ thông tin giá cả, chính sách thị trường, các hàng rào kỹ thuật trên cơ sở dữ liệu sử dụng và khai thác có hiệu quả hệ thống thông tin thị trường; Tăng cường quảng bá, xây dựng thương hiệu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam trên thị trường thế giới, trong đó ưu tiên vào thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc.

             Bên cạnh đó, tăng cường năng lực cạnh tranh, chú trọng nâng cao chất lượng hơn là hạ giá thành sản phẩm, tăng cường liên kết giữa nhà sản xuất và phân phối; Tập trung phát triển mạnh một số thị trường mục tiêu, có nền kinh tế phát triển ổn định, sức mua mạnh và nhu cầu liên tục tăng, các thể chế và kinh doanh, thương mại hoàn thiện, hệ thống phân phối rộng khắp và năng động, bao gồm EU, Mỹ, Nhật Bản và Nga.

            Hơn nữa, doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam cũng cần nâng cao năng lực quản trị chất lượng trong khâu thiết kế sản phẩm với mẫu mã và kiểu dáng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng; Quản trị chất lượng trong khâu cung ứng: Kiểm tra chặt chẽ chất lượng nguyên liệu; Tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu đặt hàng của các đối tác nước ngoài về chủng loại và chất lượng nguyên phụ liệu, quy trình sản xuất, quy trình kỹ thuật; Quản trị chất lượng trong khâu sản xuất, thực hiện tốt công tác kiểm tra chất lượng từ các công đoạn trong quá trình sản xuất đến thành phẩm cuối cùng, nâng cao trình độ chuyên môn hoá và ý thức trách nhiệm của lao động trong từng khâu sản xuất…    

Tài liệu tham khảo:

1. Thống kê tình hình xuất nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2017, Tổng cục Thống kê;

2. Vũ Thị Minh Ngọc, Hoàng Thị Dung (2014), Thực trạng và một số giải pháp phát triển thị trường lâm sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp;

3. Các website: trungtamwto.vn, dangcongsan.vn, hoinongdan.org.vn, vafs.gov.vn…

Nguồn http://tapchitaichinh.vn/

 

 
 

Nên đóng cửa rừng

          Chỉ một trận mưa đầu mùa do dải áp thấp kéo mây ngang qua mà tại Sơn La và Yên Bái đều có lũ ống lũ quét, không chỉ gây thiệt hại gần 1.000 tỷ đồng mà còn cướp đi hơn 30 sinh mạng ở nhiều địa phương, chỉ trong vòng 2 - 3 ngày. 

          Có gia đình, chỉ sau một đêm mưa, sáng ra cả vợ hoặc chồng cùng những đứa trẻ bỗng chốc biến mất trong dòng nước lũ hung dữ. Ngay cả tảng đá to hàng tấn cũng bị lũ cuốn bay. Có nạn nhân ở Mù Cang Chải (Yên Bái) và Mường La (Sơn La) sau nửa tháng vẫn chưa tìm được xác. 

          Thiệt hại từ sức tàn phá của mưa lũ ngày càng ghê gớm. Lâu nay chúng ta thường đổ lỗi cho ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nhưng sau cơn lũ, hình ảnh cả vùng lòng hồ thủy điện ở Mù Cang Chải tràn ngập củi gỗ trôi về đã tố cáo một sự thật là rừng đang bị hủy hoại quá nhiều. 

          Mặc dù theo báo cáo của Bộ NN-PTNT từ kết quả dự án tổng điều tra diện tích rừng cả nước thì hiện còn hơn 10 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 4,1 triệu ha rừng trồng, nhưng đi một vòng từ Nam chí Bắc, sự thật không thể phủ nhận là rừng đã dần lùi xa, đất trống đồi trọc quá nhiều. Những loại rừng nghèo, tán lưa thưa không đủ sức bảo vệ đất và ngăn lũ. Tây Nguyên là nơi có nhiều rừng già còn sót lại của đất nước nhưng nhiều năm nay là tâm điểm của khai thác gỗ lậu, lâm tặc chống người thi hành công vụ, phá rừng để trồng cà phê, cao su…

          Rừng mất, đất dốc, lũ về càng nhanh, càng trở nên hung dữ. Càng ngày, hậu quả của việc phá rừng càng thể hiện rõ rệt hơn. Tình trạng nóng bỏng tới mức năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã lệnh phải đóng cửa rừng Tây Nguyên. 

          Từ yêu cầu cấp thiết phải đóng cửa rừng Tây Nguyên, đến tháng 1-2017, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 13-CT/TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó có lệnh chỉ đạo đóng cửa rừng tự nhiên (dừng khai thác gỗ) trên phạm vi toàn quốc. 

          Điều này thể hiện sự cấp bách về việc phải bảo vệ môi trường sinh thái phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của đất nước, yêu cầu hệ thống chính trị phải cùng vào cuộc. Đầu tháng 8-2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị quyết số 71/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 13 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Hiện nay, các cơ quan soạn thảo cũng đang khẩn trương hoàn thiện dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi, dự kiến trình ra Quốc hội vào cuối năm 2017, trong đó có đưa vào luật quy định về “đóng cửa rừng”. 

          Sau khi có chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên trên cả nước, nhiều doanh nghiệp như ngồi trên lửa. Tại hội thảo đề xuất các đóng góp nội dung cho dự thảo luật vừa được Trung tâm Con người và thiên nhiên (PanNature) tổ chức ở Hà Nội, nhiều chuyên gia về rừng và doanh nghiệp đề nghị không nên đóng cửa rừng tự nhiên hoặc coi đây là chính sách khó khả thi vì gây ảnh hưởng tới quyền lợi của nhiều doanh nghiệp.

          Nếu đóng cửa rừng, sẽ gia tăng nhu cầu nhập khẩu gỗ cho các nhà máy chế biến, kim ngạch xuất khẩu gỗ sẽ sụt giảm mạnh (như năm 2016 kim ngạch xuất khẩu lâm sản lên tới 7,3 tỷ USD trong tổng số 32,1 tỷ USD giá trị nông lâm thủy sản xuất khẩu). Đặc biệt, trong những năm qua, để xuất khẩu đồ gỗ chế biến ra các nước, có những doanh nghiệp đã chi hàng trăm ngàn USD để mua chứng chỉ rừng bền vững do châu Âu chứng nhận (được phép khai thác gỗ) và ký những hợp đồng xuất khẩu gỗ lên tới hàng triệu USD, bây giờ nếu đóng cửa rừng thì có đền bù hỗ trợ không… 

          Tuy nhiên cũng tại hội thảo, rất nhiều chuyên gia về rừng và nhà quản lý chính sách lên tiếng: Phải kiên quyết đóng cửa rừng tự nhiên, không thể chần chừ, nếu không thì 10 năm nữa chúng ta sẽ chẳng còn rừng nữa. Tại Trung Quốc, Thái Lan, Philippines… cũng đã lệnh đóng cửa rừng từ hơn 15 năm trước vì lý do mất rừng và lũ lụt nặng nề. 

          Tại Việt Nam, những năm qua đã nổi lên nhiều đại gia từ khai thác gỗ rừng nhưng bây giờ đóng cửa rừng là để bảo vệ lợi ích của cả cộng đồng, không phải vì các đại gia, doanh nghiệp. Cần hiểu khái niệm đóng cửa ở đây là đối với rừng tự nhiên và chỉ áp dụng với gỗ, còn rừng trồng - rừng sản xuất vẫn được Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ. Trên thực tế thì từ năm 1993, Thủ tướng Chính phủ đã có lệnh cấm khai thác gỗ rừng tự nhiên nhưng sau đó các văn bản chồng chéo nhau, địa phương vẫn có thể ra thông báo riêng nên rừng vẫn cứ dần mòn chảy máu. Đó là lý do bây giờ phải đưa quy định về đóng cửa rừng vào luật để trình Quốc hội, nhằm có cơ sở pháp lý cao nhất để nghiêm trị nạn phá rừng, chuyển đổi đất rừng bừa bãi. Nhiều chuyên gia kinh tế cũng ủng hộ chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên trên cả nước nhưng đề nghị Chính phủ cần phải kiên quyết và không được có trường hợp nào ngoại lệ.  

 

 Theo báo sggp.org.vn

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  9
Hôm nay:  183
Tháng hiện tại:  5941
Tổng lượt truy cập: 106338
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:033.3846768 -  Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn