TIN TỨC & SỰ KIỆN

Phát triển ngành gỗ theo hướng bền vững

          (TBKTSG) - Tuy ngành gỗ vẫn liên tục tăng trưởng mạnh trong nhiều năm qua nhưng mục tiêu hiện nay còn được các doanh nghiệp trong ngành đặt ra cao hơn, đó là phát triển ngành gỗ theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, tăng kim ngạch xuất khẩu bằng cách gia tăng giá trị sản phẩm chứ không chỉ chạy theo số lượng...

Ảnh: Quốc Hùng

          Doanh nghiệp trong nước tăng sức cạnh tranh

          Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa), ngành chế biến gỗ Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong suốt nhiều năm qua. Từ kim ngạch 220 triệu đô la Mỹ năm 2000, sau 17 năm, đã lên mức 8 tỉ đô la Mỹ, nằm trong tốp 7 ngành đứng đầu cả nước về giá trị xuất khẩu. Riêng trong sáu tháng đầu năm 2018, theo số liệu của Bộ Công Thương, doanh thu xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ đã đạt 4,13 tỉ đô la, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

          Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hawa, cho biết các doanh nghiệp Việt Nam trong ngành này đang dần chiếm ưu thế so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong những năm đầu phát triển, khối doanh nghiệp có vốn nước ngoài luôn chiếm tỷ lệ hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ cả nước. Nhưng trong ba năm gần đây, khối doanh nghiệp trong nước đã vượt lên chiếm 53% tổng kim ngạch xuất khẩu.

          Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Công ty TNHH Scansia Pacific, khi kinh tế trong nước bắt đầu hội nhập, ngành gỗ Việt Nam đã có những bước chuyển mạnh mẽ với kỹ thuật, máy móc, tay nghề, quy trình quản lý đều thay đổi, hiện đại và bắt kịp nhịp phát triển của thế giới. “Ngành gỗ Việt Nam hiện không thua kém ngành gỗ bất cứ một nước nào khác”, ông Thắng nói. Nhiều thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc... đều tăng nhập khẩu mặt hàng này của Việt Nam.

          “Thị trường quốc tế đang ngày càng đón nhận những công trình nội thất cao cấp của doanh nghiệp Việt Nam bởi sản phẩm không chỉ đẹp và chất lượng mà còn tinh tế và giá cả hợp lý”.

          Không còn chỉ gia công, các doanh nghiệp gỗ hiện nay đã trực tiếp cung ứng cho những hãng kinh doanh đồ gỗ hàng đầu thế giới. Theo ông Thắng, các sản phẩm gỗ của Việt Nam đã xuất hiện từ trong căn hộ gia đình cho đến các công trình lớn như khách sạn Park Hyatt st Kitts and Nevis (đảo Caribbean), khách sạn 6 sao Rosewood Phnom Penh (Campuchia)... Một số tập đoàn điều hành khách sạn và nghỉ dưỡng hạng sang khác cũng muốn chọn doanh nghiệp Việt Nam thiết kế và thi công các công trình cho họ. “Thị trường quốc tế đang ngày càng đón nhận những công trình nội thất cao cấp của doanh nghiệp Việt Nam bởi sản phẩm không chỉ đẹp và chất lượng mà còn tinh tế và giá cả hợp lý”, ông Thắng nhận xét.

          Theo Hawa, ngành gỗ hiện đã tạo được chuỗi sản xuất dài và khép kín, từ trồng rừng, khai thác, chế biến, thương mại, xây dựng, trang trí nội ngoại thất... Trong đó, chế biến gỗ là trung tâm, kéo theo sự lan tỏa phát triển của nhiều ngành khác như vận chuyển, vải vóc, thuộc da, kim loại, bao bì, ốc vít, cơ khí, tiếp thị, du lịch...

          Tạo nguồn nguyên liệu hợp pháp

          Trên thực tế, đến bây giờ, không ít người vẫn còn quan niệm đồ gỗ trong nhà như tài sản, sử dụng cả đời, nên thường dùng gỗ quý như giáng hương, cẩm lai, lim, trắc... Vì vậy, không ít ý kiến cho rằng ngành chế biến gỗ là ngành góp phần vào việc phá rừng; giá trị xuất khẩu ngành này tăng sẽ càng kích thích tình trạng phá rừng, tác động xấu đến môi trường thiên nhiên.

          Nhưng theo ông Nguyễn Quốc Khanh, ngành chế biến gỗ xuất khẩu hoàn toàn đứng ngoài câu chuyện này. Hàng chục năm nay, trước khi Chính phủ có quyết định đóng cửa rừng (cuối năm 2014), nguyên liệu sản xuất được khai thác từ nguồn rừng trồng và nhập khẩu. Cụ thể, ngành gỗ hưởng lợi từ chương trình 327-CT năm 1992 phủ xanh đồi trọc, trong đó có việc trồng cây keo (tràm bông vàng) là loại gỗ mà doanh nghiệp ngành chế biến gỗ xuất khẩu sử dụng rất nhiều. Cùng với đó là sử dụng cây cao su sau khi đã được khai thác mủ. Đây đều là nguồn nguyên liệu hợp pháp.

          Mặt khác, theo ông Huỳnh Văn Hạnh, sản phẩm gỗ xuất khẩu phần lớn được tiêu thụ tại các nước phát triển, nơi có quy định nghiêm ngặt việc truy xuất nguồn gốc hợp pháp đồ gỗ nhập khẩu. Về phía người tiêu dùng các nước này, họ ý thức cao về việc sử dụng đồ gỗ có nguồn gốc rõ ràng để bảo vệ môi trường. Vì vậy, không có chuyện doanh nghiệp dùng gỗ rừng tự nhiên, khai thác trái phép để sản xuất.

          Tính đến cuối năm 2017, cả nước có hơn 730 doanh nghiệp đã có chứng nhận chuỗi hành trình (CoC/FSC), đứng đầu khu vực Đông Nam Á, trong đó có 49 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ quản trị rừng bền vững (FSC/FM) với tổng diện tích 226.500 héc ta. Theo Hawa, nhu cầu nguyên liệu của ngành chế biến gỗ đã kích thích việc trồng rừng để đáp ứng nguồn gỗ hợp pháp cho sản xuất. Từ chương trình trồng rừng, tỷ lệ che phủ rừng từ 39,7% năm 2011 đã tăng lên 41,45% năm 2017. Con số này tương ứng với tỷ lệ sử dụng gỗ trồng trong nước, tính theo khối lượng, từ 36% năm 2005 tăng lên 52% năm 2017 và kỳ vọng đạt 55% vào năm 2020. Tỷ lệ nhập khẩu gỗ nguyên liệu vì thế đã giảm đi tương ứng, lần lượt từ 64% xuống 48% và 45%.

          Nhờ có nguồn nguyên liệu trong nước, doanh nghiệp trong ngành có lợi thế hơn hẳn vì có được nguồn nguyên liệu rẻ hơn so với nhập khẩu. Lợi thế nguyên liệu bản địa đang được các doanh nghiệp ngành gỗ khai thác và phát huy bằng mô hình liên kết với người trồng rừng. Mô hình này đang được nhân rộng ở nhiều địa phương để đảm bảo từ nay đến 20 năm nữa vẫn đủ nguyên liệu hợp pháp cung cấp cho ngành.

          Xây dựng thương hiệu, gia tăng giá trị sản phẩm

          Gỗ trong nước chủ yếu khai thác từ cây tràm bông vàng, cây cao su. Do đó, theo giới phân tích, ngành gỗ cần xây dựng thương hiệu đồ gỗ làm từ cây tràm và cao su là loại gỗ rừng trồng để tạo sức cạnh tranh, đồng thời tạo được nguồn tiêu thụ nguyên liệu ổn định cho người trồng.

          Cũng theo giới phân tích, cần xây dựng thương hiệu quốc gia cho đồ gỗ Việt Nam để dễ tiếp cận thị trường quốc tế. Khi có thương hiệu, giá trị của đồ gỗ Việt Nam sẽ gia tăng hơn nữa. Theo ông Khanh, Việt Nam hoàn toàn có khả năng xây dựng được thương hiệu cho ngành gỗ vì có nguồn nguyên liệu rừng trồng, có gần 500.000 lao động trong nhà máy. Ngành gỗ đang có mức tăng trưởng hai con số mỗi năm... Ngoài ra, ông Khanh cho rằng một trong những nội lực quý báu là tay nghề của người thợ Việt Nam được đánh giá cao.

          Tuy ngành gỗ liên tục tăng trưởng trong nhiều năm qua, nhưng theo các doanh nghiệp, tỷ lệ hàng sản xuất theo dạng OEM (sản xuất theo đúng đơn hàng của khách) còn chiếm đến 80%, điều đó có nghĩa, hiệu suất kinh tế còn thấp. Ngành chế biến gỗ trong nước cần gia tăng mô hình sản xuất ODM (khách hàng chỉ phác thảo ý tưởng, phần còn lại do nhà sản xuất chịu trách nhiệm); doanh nghiệp cần đẩy mạnh kinh doanh sản phẩm có thiết kế, xây dựng hệ thống phân phối, thương hiệu riêng... để gia tăng giá trị.

          Vấn đề quan trọng là những nỗ lực của doanh nghiệp để gia tăng giá trị sản phẩm chứ không chỉ là phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu cao hơn con số 8 tỉ đô la của năm ngoái. “Mục tiêu doanh số 20 tỉ đô la Mỹ xuất khẩu vào năm 2025 là khá dễ dàng, bởi tiềm năng và cơ hội cho chúng ta còn rất lớn”, ông Thắng nói. 

Theo thesaigontimes.vn

 
 

Thêm 4.900 hectar rừng được chứng nhận là gỗ có chứng chỉ

            Gỗ có chứng chỉ vẫn là một khái niệm mới đối với đa số người dân Việt Nam. Một trong những lý do chính đó là các sản phẩm này ít được bày bán tại Việt Nam, do nhu cầu về chúng chưa có. Hầu hết sản phẩm làm từ gỗ có chứng chỉ được xuất khẩu. Nhưng điều này có thể thay đổi nếu như người tiêu dùng Việt Nam hiểu được vai trò của họ trong việc thúc đẩy quản lý và thương mại gỗ có trách nhiệm.

Lâm sản trách nhiệm. Ảnh TL

            Hơn 1.900 hectar rừng keo của công ty Bảo Châu vừa nhận được chứng chỉ Quản lý Rừng bền vững do Hội đồng Quản lý Rừng FSC chứng nhận; trở thành công ty đầu tiên của tỉnh Phú Yên nhận được chứng chỉ rừng quốc tế. Kết quả này nằm trong khuôn khổ dự án RAFT3.

            Dự án đã hỗ trợ thành công cam kết hướng tới sự bền vững 3 công ty trồng rừng tại tỉnh Phú Yên, Cà Mau và Bình Định. Các công ty này đang nỗ lực trồng và quản lý rừng theo các tiêu chuẩn của Hội đồng Quản trị rừng Thế giới (FSC). Với sự hỗ trợ kỹ thuật và thông qua các khoá tập huấn của WWF, gần 3.000 hectar rừng trồng của 2 công ty đã đạt được chứng chỉ FSC.

            Thương mại và Lâm sản có trách nhiệm châu Á (RAFT) là một chương trình hỗ trợ các quốc gia châu Á Thái Bình Dương thực hành quản lý và thương mại rừng bền vững và hợp pháp.

            Đối tác RAFT bao gồm 7 tổ chức phi chính phủ cùng hợp tác để thúc đẩy khả năng lãnh đạo, sáng kiến và năng lực quản lý rừng bền vững và thương mại lâm sản hợp pháp và có trách nhiệm dọc khu vực châu Á Thái Bình Dương.

            Với mục tiêu giảm 50% tỷ lệ phá rừng và suy thoái rừng nhiệt đới vào năm 2020, RAFT đã hợp tác cùng Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN) Việt Nam, với sự giúp đỡ của WWF, TRAFFIC và RECOFTC, thực hiện một dự án hai năm (2016-2018) nhằm thúc đẩy quản lý rừng bền vững, nhận dạng gỗ hợp pháp, thay đổi chính sách và bước đầu tạo thị trường nội địa cho các sản phẩm gỗ có trách nhiệm.

            Mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam sẽ đạt 350.000 hectar rừng trồng đạt chứng chỉ.

            Xuất khẩu đồ gỗ là một trong những ngành mang lại lợi nhuận cao cho Việt Nam, với tổng doanh thu năm 2017 là gần 8 tỷ USD.

            Các công ty trong nước thường hướng tới xuất khẩu sản phẩm sang các thị trường có lợi nhuận cao như châu Âu, Nhật hay Mỹ. Tuy nhiên, các thị trường này có nhiều yêu cầu khắt khe đối với các sản phẩm nhập khẩu, từ chất lượng cho tới tính hợp pháp, tác động về mặt xã hội và môi trường của sản phẩm.

            Những năm vừa qua, nhiều chương trình và chính sách đã được thông qua như: khuyến khích trồng rừng gỗ lớn theo Quyết định 147 của Thủ tướng ban hành năm 2007; đặc biệt là việc ký kết hiệp định Đối tác Tự nguyện trong Thực thi lâm luật, Quản trị và Thương mai Lâm sản (VPA/FLEGT), theo đó Việt Nam phải nâng cao quản lý rừng và thúc đẩy thương mại gỗ hợp pháp giữa Việt Nam và châu Âu.

            Luật Lâm nghiệp mới đã được thông qua tháng 11.2017 và sẽ chính thức có hiệu lực từ tháng 1.2019. Một điểm thay đổi lớn trong Luật Lâm nghiệp mới là việc đảm bảo thương mại sản phẩm gỗ có trách nhiệm và đẩy mạnh quản lý rừng bền vững.

            Hiện nay, Thông tư mới về quản lý rừng bền vững đang được lấy ý kiến tham vấn rộng rãi với các bên liên quan.

Theo http://nguoidothi.net.vn

 
 

Tăng ứng dụng kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây keo lai

             (TTV Online) Tìm ra giải pháp, giải quyết các khó khăn vướng mắc trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh cây keo lai theo hướng bền vững, sản xuất gỗ lớn thích ứng với biến đổi khí hậu cho các tỉnh Bắc Trung Bộ là nội dung của Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp vừa được Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp, Sở NN&PTNT Quảng Trị tổ chức.

             Ứng dụng kỹ thuật là cần thiết

             Diễn đàn “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh cây keo lai tại vùng Bắc Trung Bộ” thu hút sự quan tâm của hơn 220 đại biểu là các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp, cán bộ khuyến nông và nông dân của 5 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế.\

Các đại biểu tham quan thực tế mô hình trồng rừng thâm canh cây keo lai tại xã Cam Thủy. Việt Toàn

             Trong những năm qua, nhờ hưởng lợi từ các chương trình, dự án đầu tư như 327, 661, Quyết định 147 của Chính phủ và các dự án đầu tư nước ngoài, phong trào trồng rừng kinh tế (chủ yếu là keo lai và keo lá tràm) tại các tỉnh Bắc Trung Bộ đã phát triển khá nhanh. Đến nay, keo lai đã trở thành cây trồng rừng chủ lực của vùng, đạt gần 112.000ha. Một số tỉnh như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế có diện tích trồng keo lai chiếm 70% diện tích rừng trồng.

             Các ý kiến tại diễn đàn thống nhất: Về mặt kinh tế, gỗ rừng trồng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sẽ có chất lượng cao hơn, đáp ứng được nhu cầu gỗ xẻ đưa vào kinh doanh hàng mộc dân dụng, thay thế dần gỗ rừng tự nhiên; Về mặt xã hội: Tạo được tâm lý tin tưởng của bà con nông dân trong áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào kinh doanh rừng trồng cây keo lai...

             Ưu điểm của cây keo lai là sinh trưởng nhanh về đường kính, chiều cao và hình khối, thân cây thẳng, cành nhánh nhỏ và phát triển tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt, có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện lập địa và các loại đất khác nhau. Hiện, người trồng rừng cây keo lai có thể thu nhập gấp đôi trước đây, bình quân 50-60 triệu đồng/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 70 - 80 triệu đồng/ha sau chu kỳ 6-7 năm trồng.

             Ngoài giá trị về mặt kinh tế, trồng rừng từ cây keo lai còn có giá trị về mặt môi trường như khả năng cải tạo và chống xói mòn đất. Keo lai được đưa vào trồng khảo nghiệm ở vùng Bắc Trung Bộ vào khoảng năm 1996, tuy nhiên sau hơn 20 năm gây trồng và phát triển, đến nay trồng rừng keo lai vẫn còn nhiều hạn chế, đó cũng là thách thức lớn đối với trồng rừng thâm canh cung cấp gỗ lớn, đặc biệt là trong phương pháp trồng rừng thâm canh. Vì vậy, việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh cây keo lai là rất cần thiết.

             Nông dân cần thay đổi thói quen

             Các đại biểu đã tham quan thực tế mô hình “Trồng rừng thâm canh cây keo lai ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao chất lượng gỗ” tại xã Cam Thủy, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Đây là mô hình được triển khai năm 2014, trên diện tích 5ha. Hiện nay, mô hình đang bước vào giai đoạn tỉa thưa. Trong quá trình tham quan tại thực địa, các đại biểu đã trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây keo lai.

             Tại diễn đàn, trong phần trao đổi, các chuyên gia và ban cố vấn đã nhận và trả lời hơn 40 câu hỏi của bà con nông dân. Các câu hỏi chủ yếu tập trung vào các vấn đề chính như: Phương pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh cây keo lai theo hướng bền vững, sản xuất gỗ lớn; các kỹ thuật cần áp dụng; các vấn đề về thể chế và vai trò quản lý của Nhà nước đối với công tác quản lý trong trồng rừng thâm canh, các chính sách, biện pháp khuyến khích nhân rộng các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cho cây keo lai...

             Kết luận tại diễn đàn, TS.Trần Văn Khởi - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh cây keo lai theo hướng bền vững, sản xuất gỗ lớn ở Quảng Trị và các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Ông Khởi đề nghị Trung tâm Khoa học lâm nghiệp Bắc Trung Bộ tập trung nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng Bắc Trung Bộ trong việc phát triển rừng kinh tế nói chung và phát triển rừng keo lai nói riêng. Đặc biệt giới thiệu các giống keo mới đã được công nhận và triển vọng vào sản xuất; giới thiệu một số kỹ thuật lâm sinh quan trọng dễ áp dụng để nông dân làm theo. Đề xuất các vùng, dạng lập địa phù hợp cho từng dạng rừng, để tư vấn cho chính quyền các địa phương xây dựng quy hoạch vùng sản xuất.

             Đối với hệ thống khuyến nông, cần tăng cường các hoạt động cho việc phát triển rừng keo lai như: Xây dựng mô hình, tập huấn, tham quan, hội thảo, trong đó việc truyền thông, tham quan, trao đổi kinh nghiệm là vô cùng quan trọng.

             Về phía nông dân, TS Khởi khuyến cáo bà con cần mạnh dạn thay đổi thói quen, tập quán không phù hợp trong sản xuất trồng rừng của mình, nhất là thay đổi nguồn giống mới và xử lý thực bì. Nông dân và doanh nghiệp cần nghiên cứu các chính sách của nhà nước như vốn hỗ trợ, vốn vay cho sản xuất và kinh doanh trồng rừng để đề xuất hỗ trợ.

Theo http://trangtraiviet.vn

 
 

Ông lão người Dao sở hữu rừng lim gần chục tỷ đồng

          (PLO) - "Nhà xây xong, ô tô mua để đấy lâu ngày cũng hỏng, mà cây lim, cây trầm của tôi càng ngày càng tươi tốt. Cây lim trăm năm, các loại cây trăm năm, đời đời kiếp kiếp. Tôi làm theo lời Bác Hồ. Tôi đã xác định là trồng cho mai sau, cho con cháu thôi." - ông lão tâm sự.

          Từ năm 1969, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ về Tết trồng cây, ông Triệu Tài Cao (78 tuổi), người dân tộc Dao Thanh Phán, thôn Bằng Anh, xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ (Quảng Ninh) lên rừng tìm cây lim con mang về trồng ở khu rừng phía sau nhà. 

          Đến thập niên 80, Nhà nước thực hiện giao đất, giao rừng, ông Cao được giao chính khu rừng lim mà mình đã đổ bao mồ hôi công sức, với khoảng 30ha rừng. Trải qua vài chục năm, giờ đây rừng lim nhà ông có đến hàng trăm cây, những cây lớn có đường kính khoảng từ 50 đến 60cm. Cứ theo giá thị trường, riêng rừng lim, giờ nếu bán ông thu về chừng trên 6 tỷ đồng.

          Được giao rừng gia đình ông còn trồng thêm nhiều giống cây gỗ quý. Hiện tại, rừng của gia đình ông có khoảng 3.000 cây bầu dó, cùng các cây gỗ quý như dổi, trám, sến, táu, vàng tâm.

          Ngồi cạnh cây lim gần 50 tuổi, thân cao vút vươn thẳng tắp lên trời xanh, tán cao trùm bóng mát rượi, ông kể, từ những năm 1969, ông chăm sóc những cây rừng này như con. Kiến thức về lâm nghiệp không nhiều nhưng ông rất chịu khó mày mò học hỏi. Ngày đầu, cây mọc thưa thớt, nhưng trời không phụ công người, hạt rơi xuống, cây mọc lên, rừng cứ thế vươn lên mãi.

          Những năm 80, Nhà nước chủ trương giao đất cho dân bảo vệ, trồng rừng. Người ta thi nhau trồng keo để nhanh thu lời, còn ông vẫn giữ mảnh rừng gần 30ha, chia cho các con trồng thêm lim và cây dó bầu. Ông Cao chia sẻ "Giao rừng thì bà con không muốn đâu, bảo giao đất giao trời có cây gì đâu. Nhưng mà tôi không nghĩ thế, có đất có trời là tốt rồi, tôi cứ nhận thôi, càng nhiều càng tốt. Người ta cũng đến chặt trộm cây trầm ấy, đào củ kích. Gãy đổ cũng có, bão đổ cũng có, sét đánh cũng có nữa".

          Lấy ngắn nuôi dài, ông Cao tâm niệm, trồng cây không chỉ ngày một ngày hai, phải vì lợi ích lâu năm mà làm. Người hỏi mua, ông không bán, người bảo gàn dở, ông mặc kệ. Thậm chí không thiếu kẻ nhòm ngó, dọa đốn chặt, ông lại cùng con cháu dựng hàng rào, đi tuần bảo vệ. Ông nhớ từng cây, vết u này là do bọn trẻ con nghịch ngợm bắn ná cao su, cây này thấp là vì bị sét đánh tước vỏ.

          Đến giờ, ngọn đồi xưa đã ngút ngàn hàng trăm cây lim, hàng nghìn cây dó bầu. Nhiều cây dó bầu cho trầm hương, ông cũng để vậy, không khai thác ồ ạt. Ông Cao chỉ cho chúng tôi xem từng cây rừng, phân tích giá trị của chúng khi làm gỗ. Ông bảo bầu dó loại nhỏ có người vào trả 5 triệu mỗi cây nhưng ông chưa bán. Ông khoe giá trị của loại trầm hương nhân tạo từ cây bầu dó, nấm lim, rồi thì vàng tâm, dổi, sến, táu .v.v..

          Cây bụi dưới đất tưởng chừng vô ích nhưng lại có cây là vị thuốc quý như trà hoa vàng, ba kích…bán cho mấy ông thầy lang. Rừng của ông Triệu Tài Cao là một kho báu, nhìn đâu, nhìn cây gì cũng ra tiền. "Dân cứ bảo ông dại thế, trồng cây lâu năm làm gì. Tôi bảo, đời người ngắn ngủi ăn được bao nhiêu. Tôi ăn bao nhiêu thì tôi lấy của rừng bấy nhiêu thôi.

          Nhà xây xong, ô tô mua để đấy lâu ngày cũng hỏng, mà cây lim, cây trầm của tôi càng ngày càng tươi tốt. Cây lim trăm năm, các loại cây trăm năm, đời đời kiếp kiếp. Tôi làm theo lời Bác Hồ. Tôi đã xác định là trồng cho mai sau, cho con cháu thôi".

          Dẫn khách về căn nhà tựa lưng vào cánh rừng, ông Cao khoe 5 gian nhà đã gần 50 năm, mái ngói rêu phong cũ kỹ rợp trong bóng mát, ngày ngày đón tiếng chim lảnh lót từ rừng cây lùa vào. Ông bảo, chỉ ở đây mới có thể vài bước chân là lên thăm rừng, con mình, cháu mình cũng sẽ ở đây, sẽ giữ rừng giữ đất như ông tâm huyết.

          Hiện tại, rừng lim của gia đình ông Cao phủ xanh cả quả đồi rộng, tạo ra dưỡng khí trong lành cho dân cư xung quanh, tạo cảnh quan đặc biệt, nơi cư trú cho các loài động vật. Nếu rừng lim này tồn tại hàng trăm năm sau, giá trị của nó còn lớn hơn bởi đây là thực thể xanh tái tạo, một khu bảo tồn. Ông Cao cũng chia diện tích rừng cho 5 người con và dặn dò con cháu trong gia đình tích cực tham gia bảo vệ, chăm sóc cánh rừng để giữ rừng nguyên sinh cho đời sau. 5 người con trai của ông đều làm nhà ở quanh mé rừng, tạo thành một “hàng rào” vững chắc bảo vệ cho cánh rừng tự nhiên.

Theo http://baophapluat.vn

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  128
Hôm nay:  188
Tháng hiện tại:  9064
Tổng lượt truy cập: 291724
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:0203.3846768 - Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn