TIN TỨC & SỰ KIỆN

Bảo tồn linh trưởng trong mối quan hệ với rừng

          Giám đốc Chương trình Bảo tồn Voọc Cát Bà (CBLCP), Neahga Leonard, trầm ngâm trên suốt chuyến tàu chở đoàn nhà báo từ vịnh Hạ Long sang đảo Cát Bà. Phần lớn nhà báo, tham gia chuyến điền dã báo chí do Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế  (IUCN) tổ chức, biết đến vịnh Hạ Long nổi tiếng với những núi đá vôi lớn nhỏ nhiều hơn biết về đảo Cát Bà. Họ càng không biết đảo Cát Bà, khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận, có sự đa dạng sinh học rất cao, và đang che chở nhiều loài động thực vật quý hiếm trên thế giới, trong đó có một loài động vật chỉ có thể tìm thấy ở đảo Cát Bà là voọc Cát Bà.;

Voọc Cát Bà được nhận biết bằng việc thường xuyên được liệt kê trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới

          Kể từ khi rời Mỹ để đến đảo Cát Bà làm Giám đốc CBLCP từ năm 2014, ông Neahga đã thường xuyên nhận được câu hỏi “voọc là gì?”. “Một cách đơn giản, voọc là họ hàng với loài khỉ ăn lá cây, có tay dài, ngón cái nhỏ, cái đuôi dài, linh hoạt để giữ thăng bằng trong lối sống leo trèo trên cây của chúng”, ông Neahga chia sẻ trong bài blog đầu tiên về loài động vật quý hiếm này.

          Loài voọc không phải loài khỉ lớn, voọc Cát Bà chỉ lớn cỡ một đứa trẻ nhỏ, nhưng có cánh tay dài để leo trèo và một cái đuôi dài một cách ấn tượng, hơn cả chiều dài cơ thể chúng. “Biểu hiện của voọc sâu lắng và đầy tình cảm một cách đáng ngạc nhiên, như thể chúng đang cân nhắc thứ gì đó mà con người đã đánh mất, giờ đây chúng nhận thức được và thích thú về việc làm điều đó một cách tự phụ”, ông viết.

          “Voọc Cát Bà được nhận biết bằng việc thường xuyên được liệt kê trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới. Tôi không ám chỉ nguy cấp nghĩa là chỉ còn vài trăm cá thể sống sót, sự thật là cực kỳ nguy cấp khi chỉ còn một số ít sót lại”, ông Neahga nhấn mạnh. 

 

          Voọc Cát Bà đã giảm đến 98% số lượng chỉ trong vòng 50 năm, từ số lượng vốn không nhiều, 2.500-2.700 cá thể vào những năm 1960. Những năm 1990, voọc Cát Bà bị săn bắt nhiều cùng thời điểm Cát Bà trở thành điểm du lịch nổi tiếng. Hiện nay, số lượng loài này trong tự nhiên chỉ còn 60 cá thể, theo IUCN và chúng đang phải đối mặt với việc mất môi trường sinh sống với các mối đe doạ lớn nhất là nạn săn bắt trộm, việc phá rừng làm đất trồng trọt và sự phát triển du lịch ồ ạt tại đảo Cát Bà. Chuyện buồn tương tự xảy đến với các loài linh trưởng quý khác của Việt Nam.

          Việt Nam là một trong 12 quốc gia có độ đa dạng linh trưởng cao nhất thế giới. Đáng buổn là Việt Nam đứng trong top 3 quốc gia có nhiều loài kinh trưởng bị đe doạ tuyệt chủng cao nhất thế giới, đồng hạng với Indonesia, chỉ sau Madagascar, theo Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nước Việt Xanh (GreenVIET). Trong số 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng nhất trên thế giới, có 3 loài đặc hữu, chỉ có thể được tìm thấy ở Việt Nam.

          “Cực kỳ nguy cấp nghĩa là chúng đang trên bờ vực tuyệt chủng”, ông Neahga cảnh báo “có 11 loài linh trưởng đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp tại Việt Nam”. Toàn bộ số lượng của 7 loài ít nhất trong nhóm này, bao gồm vượn đen tuyền, voọc Cát Bà, vượn Cao Vít, voọc mông trắng, voọc mũi hếch, vượn đen má trắng và chà vá chân xám chỉ 2.500 cá thể.    

           Theo thống kê về hiện trạng các loài động vật nguy cấp, quý hiếm cho thấy nhiều loài đang ở mức báo động, đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao do nguyên nhân chính là việc khai thác quá mức và mất môi trường sống.

            “Không có người mua, không còn kẻ giết” là slogan nổi tiếng của chiến dịch Bảo vệ tê giác của WildAid. Trước đây, loài họ hàng gần gũi với con người thường được cho là bổ dưỡng và bị săn bắt để làm thuốc. Đã có nhiều dự án tích cực thay đổi nhận thức, mà một trong những thành công được nhiều người truyền miệng là việc thuyết phục được một thợ săn lão luyện thay đổi chiến tuyến.

          Ông Neahga  kể rằng, ông Vũ Hữu Tỉnh đã từng là người săn voọc cừ nhất đảo Cát Bà, rành rẽ từng nơi ăn chốn ở, từng thói quen của loài vật này. Nhưng giờ đây, ông Tỉnh là đội trưởng Đội chống săn trộm BVR của dự án CBLCP, vẫn dùng chính kiến thức và kinh nghiệm trước kia để phá bẫy của thợ săn, đảm bảo an toàn cho đàn voọc quý.

          Mặt khác, các tổ chức còn nỗ lực hành động, thậm chí can thiệp để giúp tăng số lượng cá thể trong loài. “Tuy nhiên, những nỗ lực can thiệp này sẽ khó có khả năng cải thiện nhiều tình hình hiện tại, vẫn có những nhóm nhỏ có khả năng biến mất trong 50 năm tới, dù có can thiệp hay không, nếu các yếu tố khác về sinh cảnh không thay đổi”, nghiên cứu của Neahga và các đồng sự tiết lộ.

           Nạn chặt phá rừng gây nên sự thu nhỏ, chia cắt về nơi sinh sống của các loài linh trưởng, và ảnh hưởng đến nguồn thức ăn của chúng. Ngành gỗ thường được áp đặt là tội đồ cho việc này. “Đó là một nhận thức sai lầm. Ngành gỗ chỉ khai thác gỗ rừng trồng, gỗ có nguồn gốc. Còn gỗ rừng tự nhiên đã bị cấm sử dụng từ hơn 20 năm nay”, ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), cũng là một người ủng hộ dự án Bảo vệ linh trưởng tại Việt Nam, bày tỏ.

          Trên thực tế, diện tích rừng tăng thêm đáng kể trong hơn 20 năm qua, từ mức 28% năm 1990 lên đến 40% vào năm 2015. Việc tăng nhanh độ che phủ của rừng là một tín hiệu tốt của ngành nông lâm nghiệp, khi một nửa diện tích rừng tăng lên là rừng trồng và rừng phục hồi, cũng là nguồn cung cấp gỗ có nguồn gốc cho ngành gỗ.

          Tuy nhiên, rừng trồng lại có giá trị đa dạng sinh học không cao, cũng không hữu dụng trong việc tăng sinh cảnh và nguồn thức ăn cho các loài động vật, trong đó có voọc. Rừng tự nhiên, có tốc độ phục hồi chỉ bằng 1/6 rừng trồng, ngôi nhà của các loài động vật hoang dã, thường là rừng nhiều tầng, có giá trị đa dạng sinh học cao và tác dụng điều hoá khí hậu lớn gấp nhiều lần rừng trồng, rừng cây công nghiệp. Điều đáng lo ngại là chất lượng rừng tự nhiên tiếp tục giảm, theo báo cáo của Trung tâm Quan trắc Môi trường (CEM).

          Các hoạt động khai thác gỗ lậu, săn bắt động vật và khai thác lâm sản ngoài gỗ vẫn diễn ra tại một số địa phương. Việc này gây áp lực lớn đối với các quần thể động, thực vật hoang dã vốn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự suy thoái và chia cắt sinh cảnh. Ngoài ra, việc xây dựng các khu du lịch và mở đường giao thông tại các điểm du lịch như bán đảo Sơn Trà đã chia cắt sinh cảnh sống của đàn voọc khiến sự tách nhập đàn voọc gặp khó khăn dẫn đến khả năng thoái hóa gen vì giao phối cận huyết.

           “Điều gì sẽ đến với loài này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác ngoài nỗ lực bảo tồn của chúng tôi. Tương lai này phụ thuộc vào giáo dục, sự hỗ trợ và sự tham gia của một xã hội lớn hơn nhiều”, ông Neahga tâm sự.

           Ông Khanh cho biết: “Sẽ là không công bằng với các giống loài này vì chúng cùng tồn tại như những loài sinh vật với con người. Sẽ không công bằng với con cháu chúng ta sau này nếu chúng không được ngắm nhìn những sinh vật đẹp đẽ như vậy trong tự nhiên nữa. Chúng ta đã qua thời lo cho đủ ăn đủ mặc để bào chữa cho việc hy sinh thiên nhiên cho phát triển kinh tế. Chúng ta đã có nhận thức tốt hơn về việc làm sao có thể gìn giữ những giá trị cho con cháu sau này”.

Nguồn thiennhien.net

 
 

Chi trả dịch vụ môi trường rừng góp phần bảo vệ và phát triển rừng

      Ngày 24/9/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP, đây là chính sách mới, lần đầu tiên chi trả phí cho người trồng rừng, người bảo vệ rừng mang lại ô xy và nguồn nước cho môi trường sống

          Ngày 24/9/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 99/2010/NĐ-CP, đây là chính sách mới, lần đầu tiên chi trả phí cho người trồng rừng, người bảo vệ rừng mang lại ôxy và nguồn nước cho môi trường sống; đồng thời thu phí từ những tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ, hưởng lợi từ rừng để phục vụ chi trả.

          Mặc dù Nghị định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có hiệu lực từ năm 2010 nhưng tại tỉnh Bắc Kạn, đến năm 2013 Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng mới được thành lập. Năm 2014 kiện toàn xong nhân sự và đến năm 2015 mới thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Mới đây, thực hiện sắp xếp tinh gọn bộ máy, 03 đơn vị là Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, Quỹ phát triển đất, Quỹ Bảo vệ môi trường đã được sáp nhập thành Quỹ Phát triển đất, rừng và Bảo vệ môi trường, trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và đi vào hoạt động từ tháng 11 năm 2017.

          Ngay sau khi kiện toàn, ổn định bộ máy, Quỹ Phát triển đất, rừng và Bảo vệ môi trường (sau đây gọi tắt là Quỹ) đã khẩn trương giải ngân tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2017 trước Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018. Theo đó, tiến hành thành lập ban chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho 92.588ha rừng với hơn 10.721 chủ rừng là hộ gia đình cá nhân; 105 chủ rừng là cộng đồng thôn; 05 tổ chức là Vườn Quốc gia Ba Bể, Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, Ban CHQS huyện Ngân Sơn, Lâm trường Ba Bể, Lâm trường Ngân Sơn; 39 UBND xã thuộc 04 huyện Ba Bể, Ngân Sơn, Chợ Đồn, Pác Nặm, với tổng kinh phí chi trả năm 2017 là hơn 7 tỷ đồng.

          Trong công tác triển khai trồng rừng thay thế của các dự án có thu hồi đất rừng trên toàn tỉnh, Quỹ Phát triển đất, rừng và Bảo vệ môi trường đã phối hợp với Sở NN&PTNT trồng được 7ha cây thông Mã Vĩ tại Đồn Đèn (Ba Bể) và 13ha tại đèo Gió (Ngân Sơn). Hiện những diện tích trên đã được nghiệm thu và giao cho UBND xã Khang Ninh và Ban CHQS Ngân Sơn chăm sóc, quản lý.     

Cộng đồng thôn Ban Khang, xã Xuân Lạc (Chợ Đồn) trên đường tuần tra bảo vệ rừng.

          Theo thống kê của ngành Kiểm lâm, diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh là hơn 300.000ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 72,1%- cao nhất toàn quốc. Kế hoạch giai đoạn năm 2015 - 2020, tỉnh đặt mục tiêu trồng mới thêm 32.000ha rừng. Hiện nay mới có 02 đơn vị là Nhà máy thuỷ điện Tuyên Quang và Na Hang chi trả dịch vụ môi trường rừng. Do vậy, với diện tích rừng rất lớn, đối tượng hưởng chính sách nhiều nhưng lại ít tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ môi trường rừng nên mức chi trả rất thấp, trung bình chỉ 76.000 đồng/ha, chưa đóng góp được nhiều cho các chủ rừng trong việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng.

          Ông Mông Quốc Hùng- Phó Giám đốc Quỹ Phát triển đất, rừng và Bảo vệ môi trường cho biết: Trên địa bàn tỉnh có một số đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng nhưng tỉnh chưa thu được phí vì chưa xác định được mức sử dụng dịch vụ của các tổ chức, cá nhân. Hiện nay, chúng tôi đang phối hợp với Chi cục Kiểm Lâm, chủ rừng là tổ chức, cá nhân và các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng như các Nhà máy thuỷ điện Nặm Cắt, Tà Làng, Thượng Ân... để xác định lượng điện bán hàng năm, diện tích rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng nhằm xây dựng kế hoạch thu, trả hợp lý.

          Thực tế cho thấy, nhiều tổ chức cá nhân như HTX xuồng, các nhà nghỉ, các loại hình dịch vụ du lịch xung quanh hồ Ba Bể... đều sử dụng dịch vụ môi trường rừng nhưng lại chưa đóng phí là bất cập cần được khắc phục. Ngoài ra, nhiều đơn vị đã sử dụng dịch vụ môi trường rừng từ rất lâu nhưng Quỹ vẫn chưa lập hồ sơ để thu phí là quá chậm trễ, gây thiệt thòi cho các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ môi trường rừng.

Nguồn moitruongvadothi.vn

 
 

Tăng mức xử phạt đối với hành vi buôn bán động vật hoang dã

Các cá thể gấu được chăm sóc tại Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam

thuộc Vườn quốc gia Tam Ðảo (Vĩnh Phúc) sau khi được cứu hộ. Ảnh: MỸ HÀ

          Thời gian gần đây, nhiều vụ việc vi phạm pháp luật liên quan đến động vật hoang dã được phát hiện, xử lý. Tuy nhiên, các vi phạm về lĩnh vực này vẫn chưa có dấu hiệu giảm, đang đặt ra những yêu cầu cấp bách, thường xuyên đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật và cả cộng đồng xã hội.

          Vi phạm nặng, xử phạt nhẹ

          Ngày 2-5 vừa qua, nhờ tin báo của người dân qua đường dây nóng, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (Công an tỉnh Quảng Bình) đã giải cứu một cá thể voọc bị nuôi nhốt tại một công trường ở địa phương. Cá thể voọc sau đó được chuyển về Trung tâm cứu hộ của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Cùng ngày, Chi cục Kiểm lâm TP Hồ Chí Minh tịch thu một cá thể khỉ nặng 2 kg bị nuôi nhốt ở một nhà hàng trong thành phố, chuyển giao về Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi. Cảnh sát Môi trường Hà Nội cũng đã tịch thu một số bình rượu ngâm tê tê và rắn hổ mang chúa do một đối tượng ở Ðông Anh (Hà Nội) rao bán trên in-tơ-nét. Trước đó, cuối tháng 4, Cảnh sát Môi trường và Chi cục Thủy sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tiến hành kiểm tra, tịch thu một cá thể rùa biển nặng 4 kg, sau đó thả về vùng biển tại địa phương. Hạt Kiểm lâm Uông Bí (Quảng Ninh) giải cứu một cá thể khỉ bị nuôi nhốt ở một nhà hàng.

          Ðầu tháng 5, tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, một vụ nhập khẩu trái phép 3,3 tấn vảy tê tê từ châu Phi về Việt Nam được Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn Khu vực 1 (Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh) phát hiện và bắt giữ. Trước đó, cơ quan này cũng phát hiện và bắt giữ gần bốn tấn vảy tê tê cất giấu trong các khúc gỗ hộp, nhập khẩu từ châu Phi về Việt Nam. Như vậy, chỉ trong vòng hơn một tuần, lực lượng Hải quan TP Hồ Chí Minh phối hợp với các đơn vị liên quan đã liên tiếp bắt giữ hai vụ vận chuyển hơn bảy tấn vảy tê tê nhập lậu, ước tính trị giá tang vật hơn 60 tỷ đồng. Theo Tổng cục Hải quan, từ năm 2010 đến nay, cơ quan Hải quan cả nước đã phát hiện, bắt giữ và xử lý gần 200 vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép động thực vật hoang dã, trong đó có 65 vụ liên quan đến buôn lậu, vận chuyển trái phép ngà voi và 25 vụ liên quan đến sừng tê giác.

          Kết quả nêu trên thể hiện sự quyết tâm, nỗ lực, hiệu quả trong hoạt động kiểm soát chống buôn bán, vận chuyển trái phép động thực vật hoang dã của các lực lượng chức năng trong thời gian qua.

         Tuy nhiên, do lợi nhuận lớn, mức xử phạt nhẹ, chưa đủ sức răn đe, cho nên số vụ vi phạm về động vật hoang dã (ÐVHD) vẫn không giảm. Vụ trộm trứng rùa biển ở Côn Ðảo xảy ra năm 2017 là một thí dụ. Ðây là lần đầu một vụ án buôn bán trứng rùa biển được đưa ra xét xử. Tòa đã tuyên án ba bị cáo, trong đó có hai án cải tạo không giam giữ và một án phạt 50 triệu đồng. Một vụ việc khác được coi là trọng điểm về tội phạm ÐVHD là vụ án "Nguyễn Mậu Chiến và đồng bọn vận chuyển, tàng trữ hàng cấm" được Tòa án nhân dân (TAND) quận Hà Ðông (TP Hà Nội) đưa ra xét xử vào tháng 3 vừa qua. Nhưng đối tượng Nguyễn Mậu Chiến bị tình nghi cầm đầu đường dây buôn bán trái phép sừng tê giác, ngà voi và các sản phẩm từ ÐVHD khác từ châu Phi về Việt Nam, chỉ bị kết án 13 tháng tù và phạt bổ sung 10 triệu đồng. Ngay sau phiên tòa, Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) đã có văn bản gửi Viện Kiểm sát, TAND TP Hà Nội, cho rằng việc xử phạt đối tượng Chiến 13 tháng tù là bất hợp lý, không có ý nghĩa răn đe, phòng ngừa tội phạm về ÐVHD, đồng thời đề xuất kháng nghị bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng hình phạt đối với Nguyễn Mậu Chiến.

          Tăng cường các biện pháp trấn áp

         Năm 1994, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). Ðể thực hiện CITES, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2006/NÐ-CP về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Chỉ thị về việc tăng cường chỉ đạo và thực hiện các biện pháp kiểm soát, bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, thể hiện cam kết chính trị ở cấp cao nhất trong công tác đấu tranh với tội phạm vi phạm luật bảo vệ loài hoang dã. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư 04/2017/TT-BNNPTNT về việc ban hành Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Ðể thể hiện sự nghiêm khắc giáo dục, răn đe, đối tượng có hành vi nuôi nhốt, tàng trữ ÐVHD trái phép có thể bị xử phạt vi phạm hành chính lên đến 500 triệu đồng theo Nghị định 157/2013/NÐ-CP và Nghị định 103/2013/NÐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 41/2017/NÐ-CP), hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự lên đến 15 năm tù theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015.

          Quy định như vậy nhưng thực tế các vụ án khi khởi tố, xét xử hiện nay vẫn còn những tranh cãi, chưa thống nhất khi áp dụng chế tài xử lý đối với các đối tượng phạm tội, dẫn đến mức xử phạt đối tượng không tương xứng với hành vi phạm tội. Thậm chí, một số địa phương đã chọn xử lý hành chính, thay vì phải truy cứu trách nhiệm hình sự tội phạm cho nên đã vô tình bỏ lọt tội phạm, làm giảm sức răn đe, giáo dục, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác phòng, chống tội phạm ÐVHD. Ðây có thể coi là những kẽ hở, hạn chế, thiếu tính cụ thể của các quy định.

          Do vậy, trong thời gian tới, cùng với việc nâng cao ý thức của người dân, các cơ quan bảo vệ và xây dựng pháp luật cần sớm sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật phù hợp để không bỏ sót tội phạm cũng như cần xử lý nghiêm khắc loại tội phạm này. Có như vậy, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ÐVHD mới thật sự phát huy hiệu quả.

Nguồn nhandan.com.vn

 
 

6 tháng đầu năm ngành Lâm nghiệp đạt nhiều kết quả khả quan

         Tính đến hết ngày 25/06/2018, giá trị xuất khẩu lâm chính ước đạt 4,331 tỷ USD, hoàn thành 48% kế hoạch xuất khẩu lâm sản của năm 2018.

          Trong đó: Gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 4,114 tỷ, chiếm 22,3% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp. Giá trị xuất siêu lâm sản chính đạt 3,237 tỷ USD (riêng giá trị xuất siêu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,031 tỷ USD).

          Năm 2018, ngành lâm nghiệp đặt ra mục tiêu xuất khẩu 9 tỷ USD giá trị các mặt hàng lâm sản. Như vậy, với những kết quả khả quan của 6 tháng đầu năm, đến nay kế hoạch này đã hoàn thành được 48%. Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc   vẫn là 4 thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam - chiếm 78,2% tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Các thị trường có giá trị xuất khẩu gỗ tăng mạnh là Malaysia (gấp 2 lần), Hàn Quốc (49,6%), Pháp (24,7%), Hoa Kỳ (11,5%) và Úc (11,3%).

          Để đảm bảo lượng gỗ nguyên liệu phục vụ xuất khẩu tăng mạnh theo từng năm, tính đến nay, các địa phương phía Bắc và Bắc Trung Bộ có thời vụ trồng rừng trong vụ xuân hè  đã trồng được 105.982 ha rừng, bằng 114 % so với cùng kỳ năm 2017.

          Bên cạnh đó, 6 tháng đầu năm 2018, công tác bảo vệ rừng tại các địa phương đã có những chuyển biến rõ rệt. Cụ thể: cả nước phát hiện 6.651 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 2.693 vụ, tương ứng 29% so với cùng kỳ năm 2017; diện tích rừng bị thiệt hại là 453 ha, giảm 575 ha, tương ứng 56% so với cùng kỳ năm 2017.

          Để thực hiện tái cơ cấu, ngành Lâm nghiệp định hướng sản xuất theo chuỗi, nhằm gia tăng giá trị sản phẩm, sử dụng giống có chất lượng cao để phục vụ trồng rừng, tăng cường công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng… quyết tâm hoàn thành mục tiêu về tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp, bảo vệ rừng và gia tăng sinh kế cho người trồng rừng.

Nguồn http://tongcuclamnghiep.gov.vn/

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  12
Hôm nay:  309
Tháng hiện tại:  5880
Tổng lượt truy cập: 255576
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:0203.3846768 - Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn