TIN TỨC & SỰ KIỆN

Than Đèo nai: Biến bãi thải ô nhiễm thành những cánh rừng tươi

          TNV – Hơn chục năm gần đây, bãi thải Nam nằm án ngữ ở phía Bắc thành phố Cẩm Phả không còn trơ trụi một màu đất đá vàng xám xịt. Thay vào đó, nơi đây đã được trồng cây phủ một màu xanh biếc, xuất hiện những dải rừng keo, rừng thông rậm rạp um tùm, nhiều loài chim muông, chồn sóc, bò sát… đã rủ nhau về véo von sinh sống. Dưới chân bãi thải được qui hoạch thành các hồ nước có tác dụng điều hoà sinh thái, cảnh quan trở lên tươi đẹp hơn, những buổi sáng sớm và chiều tà từng tốp bà con địa phương thong dong đi bộ, tận hưởng không khí trong lành, nâng cao sức khỏe.

          Xử lý triệt để ô nhiễm môi trường ở bãi thải Nam Đèo nai

          Bãi thải Nam Đèo Nai là khu vực chứa đất đá thải chính của 02 mỏ than: Đèo Nai và Cọc Sáu. Sau hơn 40 năm tồn tại, lượng đất đá đổ thải ra khu vưc bãi thải này sấp sỉ 200 triệu m3. Sau khi có quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/04/2003 của Thủ Tướng chính phủ, từ cuối năm 2003 Công ty cổ phần Than Đèo Nai đã dừng đổ thải đất đá ở khu vực bãi thải Nam Đèo Nai. Khối lượng đất đá thải của Mỏ được vận chuyển ra đổ thải tại bãi thải Mông Giăng và bãi thải Đông Cao Sơn.

          Bãi thải Nam Đèo Nai ô nhiễm ngày nào giờ đã là rừng keo, rừng thông rậm rạp um tùm cây cối cao hàng chục mét, nhiều loài chim muông, chồn sóc, bò sát… rủ nhau về véo von sinh sống. Ảnh: P. Quỳnh.

          Bắt đầu từ năm 2004, bãi thải Nam Đèo Nai được cải tạo san cắt tầng, tạo thành 8 tầng thải với chiều cao mỗi tầng từ 20 đến 35 mét (chỉ có 02 tầng cao trên 50m); chiều rộng mặt tầng từ 30 đến 50m, độ dốc chung của sườn bãi thải từ 240đến 260. Trên mặt mỗi tầng thải đều xây dựng đê chắn nước ở mép tầng với chiều cao từ 2 đến 3 m, chiều rộng mặt đê từ 8 đến 10 m; phía bên trong là đường liên lạc và hệ thống rãnh thoát nước dọc tầng nhằm giữ ổn định bờ bãi thải, ngăn chặn hiện tượng sói mòn đất đá thải. Đồng thời, dùng máy xúc kết hợp với ôtô xúc bốc hạ thấp góc dốc bờ bãi thải tại các khu vực không ổn định, đổ thêm đất đá vào các khu vực lõm tạo thành các tầng thải thấp, tạo điều kiện xây dựng hệ thống thu gom nước bề mặt, không cho chảy tràn xuống sườn tầng, giảm sói lở sườn bãi thải, tạo điều kiện trồng cây xanh che phủ sườn bãi thải tạo cảnh quan môi trường.

          Do khối lượng thi công lớn (đào cắt tầng thải là 894.200 m, khối lượng đắp  6.402.343 m3), và gặp nhiều khó khăn, nên công tác san cắt tầng thải, nạo vét các mương, suối thoát nước dưới chân bãi thải, xây dựng hệ thống thu gom nước bề mặt kéo dài từ năm 2004 đến giữa năm 2006 mới hoàn thành. Toàn bộ nguồn vốn đầu tư khoảng 30 tỷ đồng được tính vào chi phí sản suất của Công ty cổ phần Than Đèo Nai.

          Với tổng diện tích 120 ha, Công ty cổ phần Than Đèo Nai đã đầu tư gần 7,3 tỷ đồng trồng cây phủ xanh, sườn, mặt  bãi thải, bao gồm: Trồng cây ven đường giao thông, trên mặt đê ở mép tầng, trồng cây tập trung trên mặt tầng diện tích có diện tích 30 ha; trồng cây trên sườn tầng diện tích 90 ha.

No name

Hồ nước dưới chân bãi thải có tác dụng điều hoà sinh thái, cảnh quan trở lên tươi đẹp hơn, những buổi sáng sớm và chiều tà từng tốp bà con địa phương thong dong đi bộ, tận hưởng không khí trong lành, nâng cao sức khỏe. Ảnh: Đ. Luyện.

          Theo đó, tại các khu vực bãi thải  tầng cao kém ổn định, đất đá có độ liên kết yếu, Công ty đã tiến hành trồng cỏ Vetiver để tạo sự ổn định sườn bãi thải với diện tích 16,8 ha. Ngoài ra, Công ty còn tiến hành trồng cây bóng mát dọc tuyến đường bê tông chân bãi thải Nam, trồng các loại cây hoa giấy, cây phượng, cây liễu hoa đỏ, cây trâm bầu để tạo cảnh quan đẹp xung quanh khu vực bãi thải. Tháng 8 năm 2009, được Sở TNMT Quảng Ninh ra Quyết định công nhận Công ty cổ phần Than Đèo Nai đã hoàn thành các biện pháp xử lý triệt để ô nhiễm môi trường theo Quyết định 64/2003/ QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ.

          Những cánh rừng rậm rạp, chim muông, chồn sóc rủ nhau về

          Kể từ ngày hoàn thành xong việc cắt tầng và trồng cây phủ xanh toàn bộ bãi thải, mỗi năm vào mùa mưa Công ty không phải lo điều động hàng trăm ca máy xúc, xe gạt, ôtô để nạo vét đất đá trôi tạo sự thông thoáng dòng chảy và ổn định sườn bãi thải cũng như nguy cơ sạt lở khối lượng lớn đất đá gây nguy hiểm cho dân cư khu vực dưới chân bãi thải như trước khi thực hiện dự án.

          Mặt khác, nhờ có hệ thống thu gom nước bề mặt dẫn vào hệ thống thoát nước kiên cố dẫn xuống chân bãi thải và sườn bãi thải được trồng cây phủ xanh nên hiện tượng sói mòn bề mặt bãi thải giảm đi rõ rệt. Đặc biệt, trước đây lượng bụi phát sinh từ các hoạt động vận chuyển đất đá thải, đổ thải thường vượt quá tiêu chuẩn cho phép về vệ sinh lao động và tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí xung quanh (khu vực giáp ranh bãi thải Nam những năm 2002 và 2003 nồng độ bụi cao gấp từ 1,05 đến 1,4 lần TCCP), nhưng từ khi ngừng đổ thải và tiến hành trồng rừng hoàn nguyên môi trường, lượng bụi phát sinh do gió mạnh thổi vào sườn bãi thải không còn nữa.

Công nhân thuộc tổ bảo vệ môi trường đang phát quang bụi rậm và tỉa cành, vừa để thoáng thoáng đường giao thông vừa phòng cháy chữa cháy rừng. Ảnh: P. Quỳnh.

          Hơn chục năm gần đây, bãi thải Nam với chiều dài trên 3km, chiều cao 250m nằm án ngữ ở phía Bắc khu vực dân cư thành phố Cẩm Phả không còn trơ trụi một màu đất đá vàng xám xịt làm xấu đi cảnh quan khu vực. Thay vào đó, nơi đây đã được trồng cây phủ một màu xanh biếc, xuất hiện những dải rừng keo, rừng thông rậm rạp um tùm cây cối cao hàng chục mét, nhiều loài chim muông (chào mào, chim cu gáy, cò, le le, chim sẻ, chim sâu), chồn sóc, bò sát… đã rủ nhau về véo von sinh sống. Khu vực dưới chân bãi thải được qui hoạch thành các hồ nước có tác dụng điều hoà sinh thái, cảnh quan trở lên tươi đẹp hơn, những buổi sáng sớm và chiều tà từng tốp bà con địa phương thong dong đi bộ, tận hưởng không khí trong lành, nâng cao sức khỏe.

          Một ngày trung tuần tháng Mười vừa qua, theo chân cán bộ của Hạt Kiểm lâm Cẩm Phả vào thăm bãi thải than ô nhiễm suốt mấy chục năm trước. Con đường uốn lượn nằm len lỏi giữa những hàng cây keo, cây phi lao hơn chục năm tuổi cao vút vươn cành tỏa tán xanh rợp con đường. Ngắm nhìn những vạt rừng chằng chịt cây cối ôm quanh núi thải chạy từ chân lên đỉnh một màu xanh thẫm, thấp thoáng những chú chim nhảy nhót chuyền cành, mà cứ ngỡ như dáng dấp của của một khu bảo thiên nhiên hay khu sinh thái đang hiện hữu ngay trước mặt.

          Do cây lá sum suê, rậm rạp, bên đường hơn chục công nhân thuộc tổ bảo vệ môi trường do đốc công Nguyễn Chí Thanh phụ trách đang mải miết phát quang bụi rậm và tỉa cành, vừa để thoáng thoáng đường giao thông vừa phòng cháy chữa cháy rừng.

Ngắm nhìn những vạt rừng chằng chịt cây cối ôm quanh núi thải chạy từ chân lên đỉnh một màu xanh thẫm, thấp thoáng những chú chim nhảy nhót chuyền cành, mà cứ ngỡ như dáng dấp của của một khu bảo thiên nhiên hay khu sinh thái đang hiện hữu ngay trước mặt. Bởi vậy, đây là nơi được nhiều người chọn dừng chân chụp ảnh lưu niệm. Ảnh: P. Quỳnh.

          Bên cạnh việc tiếp tục trồng dặm, chăm sóc và bảo vệ diện tích cây đã trồng trên bãi thải Nam Đèo Nai đảm bảo phát triển tốt, tăng diện tích che phủ làm giảm hiện tượng sói mòn bề mặt bãi thải, cải thiện môi trường trong khu vực, thì hàng năm Công ty đều chú trọng tới công tác PCCCR – ông Nguyễn Tiến Kế (Trưởng phòng Bảo vệ Công ty cổ phần Than Đèo Nai) cho biết.

          Theo Phó Giám đốc Công ty Nguyễn Ngọc Tùng, đến hết năm 2017 Công ty cổ phần Than Đèo Nai đã trồng được 203,25 ha rừng; trong đó: Bãi thải Nam Đèo Nai 118,3 ha; bãi thải Mông Gioăng 54,5 ha; bãi thải Đông Khe Sim 25 ha; bãi thải trong Lộ Trí 4,84 ha. Tính đến tháng 10/2018, Công ty đã tiến hành trồng mới tại bãi thải Nam Khe Tam, Đông Khe Sim và bãi thải trong Lộ Trí là 10ha; trồng bổ sung và trồng dặm bãi thải Mông Giăng 12ha rừng.

30 ha rừng phi lao và thông mới trồng đầu xuân 2017 đang bén rễ, đâm chồi lên xanh trên bãi thải Đông Khe Sim ở độ cao 300m. Ảnh: P. Quỳnh

          Với kinh nghiệm 40 năm công tác trong ngành Kiểm lâm ở vùng than Quảng Ninh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Cẩm Phả – Hà Xuân Kinh khẳng định: Trong số gần 20 đơn vị doanh nghiệp khai than trên địa bàn Cẩm Phả liên quan tới trồng rừng hoàn nguyên môi trường, thì Công ty cổ phần Than Đèo Nai là đơn vị dẫn đầu trong trong tác trồng rừng hoàn nguyên môi trường cũng như quản lý bảo vệ rừng trồng; biến những bãi thải ô nhiễm ngày nào thành các cánh rừng tươi xanh của thành phố.

          Số liệu từ Hạt Kiểm lâm TP Cẩm Phả cho biết: Hiện tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố là 36.852,8 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 24.088 ha, diện tích có rừng là 18.300 ha nằm trên 16 phường xã, tỷ lệ che phủ rừng năm 2017 đạt 47,6%.

          Trên địa bàn thành phố có 16 đơn vị khai thác than, những năm gần đây mỗi năm sử dụng diện tích đất lâm nghiệp sang mục đích khác từ 50 đến 100 ha. Căn cứ số liệu kiểm kê rừng năm 2016, diện tích rừng trồng cải tạo phục hồi môi trường từ các bãi thải có diện tích rừng là 1.681 ha, bình quân mỗi đơn vị ngành than trồng khoảng 100 ha rừng.

          Các đơn vị có phong trào trồng cây đạt hiệu quả tốt đó là Công ty cổ phần Than Đèo Nai, Khe Sim, Cọc 6, Khe Chàm, Mông Dương…Các diện tích rừng hiện phát triển tốt tạo thêm môi trường xanh cho thành phố. Trong đó, Công ty cổ phần Than Đèo Nai là lá cờ đầu trong việc trồng cây, trồng rừng phủ xanh các bãi thải; đến hết 2017, đơn vị đã trồng được 203,28 ha (bằng hơn 200% diện tích rừng trồng bình quân của các đơn vị trong thành phố), loài cây trồng chủ yếu là keo lá tràm bông vàng. Dự kiến năm 2018 trồng 39,55 ha rừng cải tạo môi trường sau khai thác than.

          Qua các đoàn kiểm tra liên ngành và đặc biệt là đoàn kiểm tra của Hội đồng nhân dân Thành phố Cẩm Phả đã đánh giá: Than Đèo Nai là đơn vị có diện tích rừng lớn trong ngành than trên địa bàn. Diện tích cây trồng tập trung có tỷ lệ sống cao và đến nay đã thành rừng khép tán. Các khâu san gạt bãi thải đều làm mặt bằng tốt, chọn lựa cây trồng cũng tốt hơn, quá trình làm đất cải tạo môi trường được đảm bảo. Công tác phòng cháy chữa cháy được chú trọng như tuần tra, kiểm soát nghiêm ngặt vào mùa khô hanh đối với các khu rừng; hệ thống đường băng cản lửa, đường giao thông thuận lợi cho xe cơ giới tiếp cận các cánh rừng khi xảy ra cháy, sẵn sàng ứng trực nhiều xe chở nước chữa cháy…do đó thiệt hại do cháy gây ra là không đáng kể. Khi rừng lên xanh và khép tán đã có các loài động vật hoang dã đến cư trú như các loài chim, rắn, khỉ…tạo lên hệ sinh thái môi trường phong phú.

Theo http://thanhnienviet.vn

 
 

Hiệu quả từ ứng dụng hệ thống nền FORMIS cho ngành lâm nghiệp

Ứng dụng hệ thống nền FORMIS và các phần mềm nghiệp vụ sẽ giúp cung cấp các thông tin kịp thời, chính xác cho ngành lâm nghiệp. Đặc biệt, với phần mềm cập nhật diễn biến tài nguyên rừng, thời gian công bố hiện trạng rừng sẽ rút ngắn 4 tháng so với cách làm trước đây.

Đó là những hiệu quả mang lại từ hệ thống nền FORMIS được cho biết tại Hội thảo tổng kết Dự án Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp tại Việt Nam - FORMIS II (2013-2018). Hội thảo do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) phối hợp với Đại sứ quán Phần Lan tại Việt Nam tổ chức chiều 17/10, tại Hà Nội.

Quang cảnh Hội thảo (Ảnh: QH)

Được triển khai từ năm 2013, sau 5 năm thực hiện, Dự án “Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp tại Việt Nam” đã và đang đóng góp lớn cho ngành lâm nghiệp với các thành quả quan trọng. Lần đầu tiên Việt Nam xây dựng được một hệ thống nền FORMIS cho phép xây dựng cơ sở dữ liệu trên cơ sở các ứng dụng chuyên dụng và các phần mềm như: Cập nhật diễn biến tài nguyên rừng, báo cáo nhanh kiểm lâm, quản lý công nghiệp chế biến lâm sản,…

Theo đó, dữ liệu của 7,1 triệu lô rừng của trên 1,4 triệu chủ rừng từ 60 tỉnh, thành phố trong cả nước sau chương trình Tổng điều tra, kiểm kê rừng đã được tích hợp vào hệ thống cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng. Cùng với đó, các dữ liệu cập nhật diễn biến rừng 3 năm từ 2016 – 2018; dữ liệu điều tra rừng 4 chu kỳ từ năm 1990 đến 2010; dữ liệu giống cây trồng lâm nghiệp; dữ liệu chi trả dịch vụ môi trường rừng,… cũng được chuẩn hoá và tích hợp vào hệ thống. Dự án đã xây dựng được Hệ thống chia sẻ trực tuyến tại địa chỉ http://maps.vnforest.gov.vn .

Ứng dụng hệ thống nền FORMIS và các phần mềm nghiệp vụ giúp cung cấp các thông tin kịp thời, chính xác cho ngành lâm nghiệp. Đặc biệt với phần mềm cập nhật diễn biến tài nguyên rừng, thời gian công bố hiện trạng rừng sẽ rút ngắn 4 tháng so với cách làm trước đây.

Dự án FORMIS II đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của hai Chính phủ Việt Nam và Phần Lan. Theo đánh giá, những kết quả của Dự án đã góp phần thực hiện mục tiêu ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và các phương pháp khoa học dữ liệu trong công tác quản lý, điều hành lĩnh vực lâm nghiệp. Đồng thời, Hệ thống giúp ngành Lâm nghiệp thực hiện tốt hơn công tác cải cách hành chính, góp phần minh bạch thông tin, chia sẻ dữ liệu ngành theo hướng hiện đại, khoa học.

Thông tin tại Hội thảo cho biết, trong thời gian tới, để tiếp tục duy trì, vận hành hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp sẽ tiếp tục là đầu mối điều phối, tiếp nhận các thành quả của dự án. Đồng thời sẽ xây dựng Dự án Duy trì và Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp giai đoạn 2019 – 2020 và Đề án Phát triển Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp giai đoạn 2021 – 2025, báo cáo Bộ NN&PTNT để trình Chính phủ phê duyệt.

Hệ thống sẽ tiếp tục được nâng cấp, bổ sung hệ thống máy chủ và các thiết bị công nghệ thông tin để bảo đảm hoạt động ổn định, mở rộng và phát triển một số ứng dụng, phần mềm chuyên ngành nhằm đáp ứng yêu cầu chỉ đạo điều hành thông suốt từ trung ương đến địa phương./.

 Nguồn dangcongsan.vn

 
 

Nâng cao vai trò của người dân trong cải thiện quản trị rừng và giảm nghèo

Ảnh minh họa: Trồng rừng ở tỉnh Cao Bằng. (Nguồn: tinmoitruong.vn)

Ngày 26-10, Đại sứ quán Phần Lan tại Việt Nam và Tổ chức ActionAid Việt Nam tổ chức Hội thảo tổng kết dự án “Khuyến khích người dân tham gia cải thiện quản trị rừng và giảm nghèo Việt Nam” (PFG - Việt Nam) sau bốn năm thực hiện.

Dự án PFG - Việt Nam được thực hiện tại bốn huyện tại bốn tỉnh, gồm: Thông Nông, tỉnh Cao Bằng; Krông Bông, tỉnh Đác Lắc; Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh và Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, cùng một số hoạt động cấp quốc gia, trong thời gian bốn năm từ tháng 11-2014 đến tháng 10-2018.

Dự án đề ra mục tiêu là khoảng 230 nghìn người dân sẽ có thêm quyền kiểm soát rừng thông qua việc nâng cao khả năng tiếp cận của họ đối với thông tin và cơ quan chức năng.

Đồng thời, dự án cũng đặt ra một số mục tiêu khác như: Bảo đảm quản trị rừng thông qua mô hình quản lý dựa vào cộng đồng và ứng dụng công nghệ thông tin; Nâng cao khả năng sử dụng dữ liệu từ hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp tại Việt Nam (FORMIS) cho các nhóm dân tộc thiểu số; Kiến nghị, góp ý xây dựng các chính sách tích hợp thực hiện quản lý rừng hiệu quả.

Qua bốn năm thực hiện, dự án đã mang lại hiệu quả, tạo nên những thay đổi, tác động tích cực đến các cộng đồng địa phương, như: Nâng cao năng lực cho cộng đồng sử dụng thông tin từ hệ thống FORMIS và ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ và phát triển rừng, kết nối thị trường; Phát triển mô hình tổ nhóm, hợp tác xã trồng rừng, trong đó khuyến khích cộng đồng liên kết trồng rừng tập trung, bảo đảm nguồn cung nguyên liệu đủ lớn; Phát triển sinh kế và cải thiện môi trường thông qua mô hình trồng rừng và cây dược liệu trên diện tích đất đã từng trồng cây công nghiệp, cây nông nghiệp lâu năm khiến đất bị thoái hoá.

Đại sứ Phần Lan Kari Kahiluoto phát biểu tại hội thảo. Ảnh: LÊ MINH

Phát biểu tại Hội thảo, chị Phạm Thị Hà, thành viên cộng đồng xã Cư Kty, huyện Krông Bông chia sẻ: “Dự án đã giúp cộng đồng xã Cư Kty phát triển được gần 200 héc-ta rừng trồng, thành lập Hợp tác xã, kết nối với các doanh nghiệp, tổ chức, hiệp hội ... Dự án đã giúp người dân địa phương có được nhiều thông tin, kiến thức, tự tin và chủ động thực hiện những mục tiêu, ước mơ trong việc xoá đói, giảm nghèo, tiến tới làm giàu trên chính mảnh đất quê hương”.

Cũng tại Hội thảo, bà Annika Kaipola, đại diện Đại sứ quán Phần Lan cho biết: “Chúng tôi hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng hệ thống FORMIS để giúp quá trình quản lý và ra quyết định của ngành lâm nghiệp được nhanh chóng và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, việc khuyến khích người dân tham gia hệ thống FORMIS để giúp hệ thống hoàn thiện hơn, cũng đồng thời giúp cộng đồng có thể tiếp cận vào hệ thống thông tin ngành lâm nghiệp quốc gia, qua đó giúp họ tham gia vào quá trình quản trị rừng và xây dựng các mô hình sinh kế dựa vào rừng tại địa phương”.

Hội thảo thu hút sự quan tâm tham gia của gần 100 đại biểu đến từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các viện nghiên cứu, các chuyên gia lâm nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước, và đặc biệt có sự tham gia của các chủ rừng, bao gồm cả chủ rừng nhà nước, chủ rừng cộng đồng và chủ rừng hộ gia đình.

Dự án PFG - Việt Nam do Bộ Ngoại giao Phần Lan và Tổ chức ActionAid Việt Nam tài trợ, nhằm khuyến khích mọi người tham gia quản trị rừng, tạo cơ hội cho người dân địa phương tham gia vào hệ thống quản lý thông tin lâm nghiệp quốc gia, qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình trong quản trị rừng và giảm nghèo ở Việt Nam.

Với các kết quả đạt được, dự án PFG-Việt Nam sẽ được bàn giao cho các địa phương, nhằm nhân rộng trên phạm vi toàn quốc, góp phần tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản trị rừng và giảm nghèo ở Việt Nam.

Nguồn: http://nhandan.com.vn

 
 

Con số ấn tượng: Kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 7,6 tỷ USD

           (Dân Việt) Xuất khẩu lâm sản tiếp tục tăng trưởng ấn tượng trên 16% so với năm 2017. Theo đó, giá trị xuất khẩu lâm sản chính 10 tháng năm 2018 ước đạt 7,612 tỷ USD.  

           Theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT), trong tháng 10, cả nước phát hiện 932 vụ vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, giảm 136 vụ (tương ứng giảm 13%) so với tháng 10/2017; diện tích rừng bị thiệt hại 30 ha (trong đó, thiệt hại do phá rừng là 29 ha, cháy rừng là 01 ha), giảm 03 ha (tương ứng giảm 9%) so với tháng 10/2017.

           Lũy kế 10 tháng đầu năm 2018, cả nước đã phát hiện 10.728 vụ, giảm 3.658 vụ (tương ứng giảm 25%) so với 10 tháng đầu năm 2017; diện tích rừng bị thiệt hại 10 tháng đầu năm là 461 ha, giảm 476 ha (tương ứng giảm 51%) so với 10 tháng năm 2017.

           Về Phát triển rừng, lũy kế đến ngày 24/10/2018, cả nước đã chuẩn bị được gần 663,5 triệu cây giống các loại, bằng 128,3 % so với cùng kỳ năm 2017.

           Cả nước đã trồng được 186.834 ha rừng, bằng 105% so với cùng kỳ năm 2017,  bằng 87,1 % so với kế hoạch, trong đó: trồng rừng phòng hộ, đặc dụng: 11.466 ha, đạt 80,5 % kế hoạch năm bằng 110 % so với cùng kỳ năm 2017; trồng rừng sản xuất: 175.368 ha (trồng mới 47.356 ha, trồng lại sau khai thác 127.623 ha), đạt 89,6 % kế hoạch năm, bằng 105,3 % so với cùng kỳ năm 2017. Trồng cây phân tán: 47 triệu cây, đạt 79,6 % kế hoạch năm, bằng 103 % so với cùng kỳ năm 2017.

Kim ngạch xuất khẩu gỗ tăng 16% so với cùng kỳ năm 2017. Ảnh: I.T.

           Về sử dụng rừng, ước tính (theo diện tích) khai thác rừng trồng tập trung toàn quốc trong tháng 10 khoảng 22.000 ha, tương ứng sản lượng 1,63 triệu m3. Lũy kế từ đầu năm ước đạt 15,47 triệu m3 (bằng 83,5% kế hoạch năm 2018), tăng khoảng 4% so với cùng kỳ năm 2017.

           Tính đến 23/10/2018 cả nước đã thu được 2.557 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng, đạt 109 % kế hoạch năm 2018 và 161% so với cùng kỳ năm 2017 (thu tăng so với cùng kỳ 967 tỷ đồng) trong đó: Quỹ Trung ương thu được: 1.974,7 tỷ  đồng (đạt 117,7% kế hoạch năm 2018); quỹ tỉnh thu được 582 tỷ đồng.

           Xuất khẩu lâm sản tiếp tục tăng trưởng ấn tượng trên 16% so với năm 2017. Theo đó, giá trị xuất khẩu lâm sản chính 10 tháng năm 2018 ước đạt 7,612 tỷ USD (bằng 84% kế hoạch năm); tăng 16,12% so với cùng kỳ năm 2017; chiếm 23,37% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, trong đó: gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 7,23 tỷ USD, tăng 16,12%.

           Giá trị xuất siêu của lâm sản chính 10 tháng ước đạt 5,72 tỷ USD. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là các quốc gia: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và EU, chiếm khoảng 87% kim ngạch xuất khẩu. Trong 9 tháng năm nay, giá trị xuất khẩu tại các thị trường chính này đều có tăng trưởng tốt so với cùng kỳ 2017.

           Đặc biệt, với việc Việt Nam và EU vừa ký Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) sẽ giúp thúc đẩy xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ sang thị trường EU trong thời gian tới. 

Nguồn http://danviet.vn

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  46
Hôm nay:  1346
Tháng hiện tại:  13781
Tổng lượt truy cập: 335122
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:0203.3846768 - Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn