TIN TỨC & SỰ KIỆN

Giảm nghèo bền vững từ mô hình sinh kế ứng dụng công nghệ quản trị rừng

          Dự án “Khuyến khích người dân tham gia cải thiện quản trị rừng và giảm nghèo Việt Nam (PFG )” do Bộ Ngoại Giao Phần Lan và ActionAid Việt Nam hỗ trợ vốn và triển khai thực hiện từ 11/2014 –10/2018 đã tạo ra một không gian mở và tương tác cho người dân cấp cơ sở, giúp họ có cơ hội tham gia vào hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp quốc gia, qua đó cải thiện công tác quản trị rừng và góp phần phát triển kinh tế xã hội, giảm nghèo ở các vùng địa bàn khó khăn.

          Mô hình sinh kế dựa vào rừng kết nối 3 nhà

          Là 1 trong 3 địa phương trên toàn quốc triển khai thực hiện dự án PFG, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng với 5 xã trên địa bàn bao gồm Cần Yên, Lương Thông, Đa Thông, Lương Can và Bình Lãng đến nay đã đạt được nhiều kết quả tích cực, bước đầu mở ra một mô hình sinh kế mới dựa trên việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các vùng địa bàn miền núi khó khăn vùng sâu vùng xa, góp phần đưa ứng dụng công nghệ về với người nghèo để cải thiện sinh kế, phát triển kinh tế xã hội địa phương.

 Mô hình sinh kế trồng cây xen lẫn trồng rừng.

          Ông Nông Văn Đông, Phó Ban quản lý Chương trình hỗ trợ phát triển huyện Thông Nông (Cao Bằng) cho biết, dự án được triển khai trên địa bàn 5 xã tại huyện Thông Nông bắt đầu từ năm 2017 với tổng diện tích dự kiến là 30 ha với hai loại mô hình: trồng rừng trên đất cộng đồng do xã quản lý và trồng rừng trên đất hộ gia đình với 4 loài cây: keo tai tượng, thông mã vỹ, sa mộc, lát hoa. Mô hình được triển khai ở địa hình đồi núi đất và đồi núi đá lẫn đất. Tính đến nay, đã có 610 hộ tham gia vào các mô hình sinh kế dựa vào rừng, tương đương khoảng 3.110 người hưởng lợi trực tiếp từ cánh rừng trồng trong mô hình.  

          Bên cạnh đó, mô hình sinh kế theo chuỗi giá trị bền vững dựa vào rừng đã được triển khai từ đầu năm 2018 với việc hỗ trợ 5,75ha gừng hữu cơ cho 59 hộ tại các xã Cần Yên, Lương Thông, Lương Can và Đa Thông. Trong đó có 0,5ha trồng gừng hữu cơ xen dưới tán rừng và 5,25ha trồng gừng trên đất bồn địa. “Đây là lần đầu tiên huyện Thông Nông thực hiện mô hình trồng gừng hữu cơ có liên kết với doanh nghiệp để bao tiêu đầu ra cho sản phẩm. Hoạt động này được lãnh đạo huyện quan tâm, và quyết tâm thực hiện thành công để nhân rộng mô hình ở địa phương, hướng đến chuyển đổi cơ cấu kinh tế và thực hiện các mô hình sinh kế theo chuỗi giá trị bền vững và thân thiện với môi trường”, ông Đông chia sẻ.

Lớp Tập huấn kỹ năng sử dụng máy tính và truy cập FORMIS cho các hộ dân.

          Cụ thể, ông Vương Văn Thuận, Phó Chủ tịch UBND huyện Thông Nông, trưởng ban quản lý dự án của chương trình hỗ trợ phát triển huyện Thông Nông cho biết đối với sản phẩm gừng, huyện cùng phối hợp với dự án ký hợp đồng cam kết với Công ty Bao bì Vĩnh Phúc thực hiện bao tiêu toàn bộ sản phẩm cho người dân. “Các sản phẩm hàng hóa chúng tôi đều có hợp đồng với các doanh nghiệp đều tìm đầu ra cho sản phẩm. Còn về gỗ và rừng chưa có DN bao tiêu, tuy nhiên hiện nay tỉnh Cao Bằng cũng đang xây dựng nhà máy chế biến gỗ và Thông Nông cũng là vùng nguyên liệu nên việc đầu ra chắc chắn được đảm bảo”, ông Thuận chia sẻ.

          Cũng theo vị Phó chủ tịch huyện, việc liên kết chặt chẽ với DN và địa phương đã góp phần kết nối với trực tiếp các hộ trồng với cộng đồng và với các DN, qua đó có cơ hội được thảo luận, nắm bắt được điểm mạnh tiềm năng vốn có của địa phương và yêu cầu của doanh nghiệp, chia sẻ về cơ hội hợp tác giữa nông dân với doanh nghiệp đảm bảo các bên cùng có lợi, từ đó mang lại lợi nhuận và lợi ích kinh tế cho cả người dân và doanh nghiệp, đồng thời góp phần giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

          Đột phá ứng dụng công nghệ vào quản trị rừng

          Một trong những điểm rất đáng chú ý của dự án PFG triển khai tại huyện Thông Nông là hướng tới thực hiện mục tiêu xây dựng thành công các mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng kết hợp với dự án FORMIS (Phát triển Hệ thống Thông tin Quản lý ngành Lâm nghiệp tại Việt Nam) nhằm đảm bảo việc quản trị rừng có tính giải trình cao.

          Với tư duy đột phá ứng dụng công nghệ thông tin và đưa người dân trực tiếp tiếp cận với công nghệ, dự án đã thành lập kiot thông tin tại 5 xã dự án. Trong đó mỗi kiot thông tin được trang bị máy tính kết nối mạng miễn phí, máy in, và thư viện sách, do UBND các xã dự án quản lý. Mỗi cán bộ xã được chỉ định làm người phụ trách, hướng dẫn cho nhóm nòng cốt và cộng đồng sử dụng 1 kiot thông tin. Hàng tháng Nhóm nòng cốt có ít nhất 1 buổi họp nhóm, luyện tập kỹ năng máy tính và khai thác thông tin tại kiot thông tin để hỗ trợ người dân tra cứu thông tin.

          Để người dân trực tiếp được tiếp cận sử dụng công nghệ vào việc quản lý rừng được giao, anh Nguyễn Trung Thành cán bộ Hạt kiểm lâm huyện Bảo Lâm (Cao Bằng)  cho biết dự án thực hiện hỗ trợ điện thoại thông minh cho người dân, đồng thời hướng dẫn tập huấn cách cài đặt phần mềm và ứng dụng công nghệ để tra cứu thông tin về diện tích và vị trí rừng được giao trong quản lý mô hình sinh kế. Tuy được người dân hết sức hồ hởi đón nhận song không phải không có những khó khăn bước đầu.

          ”Đối với người dân còn nhiều khó khăn vì mặt bằng tri thức còn thấp, bên cạnh đó hệ thống mạng, hạ tầng, thiết bị đầu cuối còn thiếu và chưa tương thích. Tuy nhiên, nhờ người dân có sự chuẩn bị nên tiếp thu khá nhanh, chúng tôi thiết kế mỗi một đợt tập huấn từ 2-3 ngày, hướng dẫn trực tiếp cách cài đặt phầm mềm và ứng dụng tra cứu. Bà con cũng tiếp thu cơ bản và đến giờ đã sử dụng được phần mềm để quản lý mô hình sinh kế của gia đình”, anh Thành chia sẻ.

          Chị Triệu Thị Thúy, người dân tộc Nùng vốn là cán bộ chương trình hỗ trợ phát triển hệ thống tại huyện Thông Nông đã lăn lộn với dự án từ những ngày đầu cũng cho hay do người dân miền núi trình độ nhận thức còn hạn chế, lần đầu được tiếp thu công nghệ mới nên không tránh khỏi trục trặc, chưa kể những hạn chế về đường truyền, mất điện. Trong điều kiện còn hơn 30 xã nghèo miền núi của huyện Thông Nông chưa được che phủ Internet do chưa có điện và đường truyền, để người dân tiếp cận và ứng dụng được, phương pháp chủ yếu vẫn là truyền miệng, hoặc cán bộ nòng cốt phải trực tiếp mang thông tin tra cứu lên cho người dân.  

          ”Với nhóm đối tượng này, cán bộ tổ chức truyền thông nhóm nhỏ để hướng dẫn người dân trồng rừng. Do điều kiện  Internet tại chỗ vùng sâu khó khăn thì để hỗ trợ tra cứu thông tin quản lý rừng cho người dân, cán bộ thường mang dữ liệu cứng như sổ đỏ, vị trí đất đai về truy cập lấy thông tin cụ thể rồi phản hồi dữ liệu cho người dân khi họ đi chợ phiên hoặc khi cán bộ đi công tác, có như vậy thông tin mới đến được với người dân vùng sâu vùng xa”, chị Thúy cho biết.

          Chị Nông Thị Yên, một trồng gừng hữu cơ xã Cần Yên chia sẻ trước đây dù được giao đất rừng trồng song bản thân chị và gia đình cũng chưa nắm được thửa rừng nhà mình rộng bao nhiêu, nằm vị trí nào trên bản đồ. ”Nhờ được ứng dụng công nghệ quản trị rừng và tiếp cận trực tiếp thông tin, tôi quản lý được thời gian, cách chăm sóc, thời gian thu hoạch và cùng chia sẻ với các hộ khác qua mạng thông tin, đây là điều rất có ích với nông dân”, chị Yên nhận xét. Tương tự, chị Nông Thị Bé, hộ trồng rừng theo dự án PFG tại xã Cần Yên hồ hởi chia sẻ từ khi tham gia dự án bản thân chị được mở mang rất nhiều kiến thức phục vụ cho phát triển sinh kế và kinh tế gia đình. ”Chúng tôi được học kiến thức về chuỗi giá trị của các sản phẩm, học được hệ thống quản trị để biết quản lý đất rừng thuộc phạm vi quản lý của hộ mình, Học hỏi từ kiot thông tin cũng được rất nhiều điều, mình có thể xem các vùng dự án khác của tỉnh bạn, nơi nào phát triển thì mình phải cố gắng hơn. Mình áp dụng khoa học kỹ thuật như họ. Tôi mong muốn dự án phối hợp với địa phương hỗ trợ mở mang kiến thức và cải thiện cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm cho dân nhiều hơn nữa, để cho dân phát triển bền vững. Trước kia làm ruộng đời sống nghèo khổ từ lúc dự án vào thì đã đỡ hơn, đời sống đã được cải thiện lên từng ngày”, chị Bé kiến nghị.

          Đánh giá về hiệu quả của việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào mô hình sinh kế quản trị rừng, ông Vương Văn Thuận, Phó Chủ tịch UBND huyện Thông Nông cho rằng qua 3 năm thực hiện dự án, nhận thức của người dân về sinh kế từ rừng đã được cải thiện, tạo ra những tác động rất tích cực cho công tác quản lý rừng và thực  hiện các sinh kế từ rừng để triển khai các mô hình tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững ở địa phương. ”Trên cở sở thành công của hai mô hình sinh kế PFG tại 5 xã huyện Thông Nông, địa phương sẽ tiếp tục nhận rộng để áp dụng. Trong đó chúng tôi đang xây dựng một đề án để phát triển cây hàng hóa gắn với dược liệu, gắn với những cây trồng ở rừng và dưới tán rừng để có thêm những sản phẩm hàng hóa, góp phần với các hàng hóa hiện nay của huyện như cây thuốc lá, cây ngô, lạc gia tăng được giá trị sản phẩm hàng hóa trong huyện, giúp thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững tại địa phương”, vị lãnh đạo chia sẻ.

          Với tổng giá trị 1.095.755 EUR, Dự án PFG kết hợp hài hòa với Dự án Phát triển Hệ thống Quản lý Thông tin ngành Lâm nghiệp (FORMIS) đã được triển khai với các dữ liệu được số hóa từ hệ thống sẽ giúp nâng cao tính minh bạch của các thông tin về rừng, qua đó cộng đồng có thể kịp thời phát hiện và ngăn chặn các sai phạm trong quản lý rừng, cũng như nạn tham nhũng liên quan đến nguồn lợi từ rừng. Qua dự án, các nhóm dân tộc thiểu số nghèo trên địa bàn dự án sẽ biết cách sử dụng dữ liệu từ FORMIS và có thể tự khẳng định quyền được Chính phủ cấp đất phát triển sinh kế.

          Chính phủ tích hợp thực tiễn quản lý rừng hiệu quả từ những thành công của dự án vào chính sách quản trị rừng, qua đó giúp cho các chính sách trở nên hiệu quả và gần với người dân hơn. Khi dự án kết thúc, dự kiến sẽ có 180.000 phụ nữ và nam giới được cải thiện quyền kiểm soát rừng cũng như khả năng tiếp cận thông tin; các cơ quan liên quan được nâng cao kiến thức, kỹ năng về hệ thống thông tin toàn cầu (GIS) và ứng dụng FORMIS trong quản trị rừng.

Theo baodautu.vn

 
 

Phát triển ngành gỗ theo hướng bền vững

          (TBKTSG) - Tuy ngành gỗ vẫn liên tục tăng trưởng mạnh trong nhiều năm qua nhưng mục tiêu hiện nay còn được các doanh nghiệp trong ngành đặt ra cao hơn, đó là phát triển ngành gỗ theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, tăng kim ngạch xuất khẩu bằng cách gia tăng giá trị sản phẩm chứ không chỉ chạy theo số lượng...

Ảnh: Quốc Hùng

          Doanh nghiệp trong nước tăng sức cạnh tranh

          Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa), ngành chế biến gỗ Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao trong suốt nhiều năm qua. Từ kim ngạch 220 triệu đô la Mỹ năm 2000, sau 17 năm, đã lên mức 8 tỉ đô la Mỹ, nằm trong tốp 7 ngành đứng đầu cả nước về giá trị xuất khẩu. Riêng trong sáu tháng đầu năm 2018, theo số liệu của Bộ Công Thương, doanh thu xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ đã đạt 4,13 tỉ đô la, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

          Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hawa, cho biết các doanh nghiệp Việt Nam trong ngành này đang dần chiếm ưu thế so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong những năm đầu phát triển, khối doanh nghiệp có vốn nước ngoài luôn chiếm tỷ lệ hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ cả nước. Nhưng trong ba năm gần đây, khối doanh nghiệp trong nước đã vượt lên chiếm 53% tổng kim ngạch xuất khẩu.

          Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Công ty TNHH Scansia Pacific, khi kinh tế trong nước bắt đầu hội nhập, ngành gỗ Việt Nam đã có những bước chuyển mạnh mẽ với kỹ thuật, máy móc, tay nghề, quy trình quản lý đều thay đổi, hiện đại và bắt kịp nhịp phát triển của thế giới. “Ngành gỗ Việt Nam hiện không thua kém ngành gỗ bất cứ một nước nào khác”, ông Thắng nói. Nhiều thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc... đều tăng nhập khẩu mặt hàng này của Việt Nam.

          “Thị trường quốc tế đang ngày càng đón nhận những công trình nội thất cao cấp của doanh nghiệp Việt Nam bởi sản phẩm không chỉ đẹp và chất lượng mà còn tinh tế và giá cả hợp lý”.

          Không còn chỉ gia công, các doanh nghiệp gỗ hiện nay đã trực tiếp cung ứng cho những hãng kinh doanh đồ gỗ hàng đầu thế giới. Theo ông Thắng, các sản phẩm gỗ của Việt Nam đã xuất hiện từ trong căn hộ gia đình cho đến các công trình lớn như khách sạn Park Hyatt st Kitts and Nevis (đảo Caribbean), khách sạn 6 sao Rosewood Phnom Penh (Campuchia)... Một số tập đoàn điều hành khách sạn và nghỉ dưỡng hạng sang khác cũng muốn chọn doanh nghiệp Việt Nam thiết kế và thi công các công trình cho họ. “Thị trường quốc tế đang ngày càng đón nhận những công trình nội thất cao cấp của doanh nghiệp Việt Nam bởi sản phẩm không chỉ đẹp và chất lượng mà còn tinh tế và giá cả hợp lý”, ông Thắng nhận xét.

          Theo Hawa, ngành gỗ hiện đã tạo được chuỗi sản xuất dài và khép kín, từ trồng rừng, khai thác, chế biến, thương mại, xây dựng, trang trí nội ngoại thất... Trong đó, chế biến gỗ là trung tâm, kéo theo sự lan tỏa phát triển của nhiều ngành khác như vận chuyển, vải vóc, thuộc da, kim loại, bao bì, ốc vít, cơ khí, tiếp thị, du lịch...

          Tạo nguồn nguyên liệu hợp pháp

          Trên thực tế, đến bây giờ, không ít người vẫn còn quan niệm đồ gỗ trong nhà như tài sản, sử dụng cả đời, nên thường dùng gỗ quý như giáng hương, cẩm lai, lim, trắc... Vì vậy, không ít ý kiến cho rằng ngành chế biến gỗ là ngành góp phần vào việc phá rừng; giá trị xuất khẩu ngành này tăng sẽ càng kích thích tình trạng phá rừng, tác động xấu đến môi trường thiên nhiên.

          Nhưng theo ông Nguyễn Quốc Khanh, ngành chế biến gỗ xuất khẩu hoàn toàn đứng ngoài câu chuyện này. Hàng chục năm nay, trước khi Chính phủ có quyết định đóng cửa rừng (cuối năm 2014), nguyên liệu sản xuất được khai thác từ nguồn rừng trồng và nhập khẩu. Cụ thể, ngành gỗ hưởng lợi từ chương trình 327-CT năm 1992 phủ xanh đồi trọc, trong đó có việc trồng cây keo (tràm bông vàng) là loại gỗ mà doanh nghiệp ngành chế biến gỗ xuất khẩu sử dụng rất nhiều. Cùng với đó là sử dụng cây cao su sau khi đã được khai thác mủ. Đây đều là nguồn nguyên liệu hợp pháp.

          Mặt khác, theo ông Huỳnh Văn Hạnh, sản phẩm gỗ xuất khẩu phần lớn được tiêu thụ tại các nước phát triển, nơi có quy định nghiêm ngặt việc truy xuất nguồn gốc hợp pháp đồ gỗ nhập khẩu. Về phía người tiêu dùng các nước này, họ ý thức cao về việc sử dụng đồ gỗ có nguồn gốc rõ ràng để bảo vệ môi trường. Vì vậy, không có chuyện doanh nghiệp dùng gỗ rừng tự nhiên, khai thác trái phép để sản xuất.

          Tính đến cuối năm 2017, cả nước có hơn 730 doanh nghiệp đã có chứng nhận chuỗi hành trình (CoC/FSC), đứng đầu khu vực Đông Nam Á, trong đó có 49 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ quản trị rừng bền vững (FSC/FM) với tổng diện tích 226.500 héc ta. Theo Hawa, nhu cầu nguyên liệu của ngành chế biến gỗ đã kích thích việc trồng rừng để đáp ứng nguồn gỗ hợp pháp cho sản xuất. Từ chương trình trồng rừng, tỷ lệ che phủ rừng từ 39,7% năm 2011 đã tăng lên 41,45% năm 2017. Con số này tương ứng với tỷ lệ sử dụng gỗ trồng trong nước, tính theo khối lượng, từ 36% năm 2005 tăng lên 52% năm 2017 và kỳ vọng đạt 55% vào năm 2020. Tỷ lệ nhập khẩu gỗ nguyên liệu vì thế đã giảm đi tương ứng, lần lượt từ 64% xuống 48% và 45%.

          Nhờ có nguồn nguyên liệu trong nước, doanh nghiệp trong ngành có lợi thế hơn hẳn vì có được nguồn nguyên liệu rẻ hơn so với nhập khẩu. Lợi thế nguyên liệu bản địa đang được các doanh nghiệp ngành gỗ khai thác và phát huy bằng mô hình liên kết với người trồng rừng. Mô hình này đang được nhân rộng ở nhiều địa phương để đảm bảo từ nay đến 20 năm nữa vẫn đủ nguyên liệu hợp pháp cung cấp cho ngành.

          Xây dựng thương hiệu, gia tăng giá trị sản phẩm

          Gỗ trong nước chủ yếu khai thác từ cây tràm bông vàng, cây cao su. Do đó, theo giới phân tích, ngành gỗ cần xây dựng thương hiệu đồ gỗ làm từ cây tràm và cao su là loại gỗ rừng trồng để tạo sức cạnh tranh, đồng thời tạo được nguồn tiêu thụ nguyên liệu ổn định cho người trồng.

          Cũng theo giới phân tích, cần xây dựng thương hiệu quốc gia cho đồ gỗ Việt Nam để dễ tiếp cận thị trường quốc tế. Khi có thương hiệu, giá trị của đồ gỗ Việt Nam sẽ gia tăng hơn nữa. Theo ông Khanh, Việt Nam hoàn toàn có khả năng xây dựng được thương hiệu cho ngành gỗ vì có nguồn nguyên liệu rừng trồng, có gần 500.000 lao động trong nhà máy. Ngành gỗ đang có mức tăng trưởng hai con số mỗi năm... Ngoài ra, ông Khanh cho rằng một trong những nội lực quý báu là tay nghề của người thợ Việt Nam được đánh giá cao.

          Tuy ngành gỗ liên tục tăng trưởng trong nhiều năm qua, nhưng theo các doanh nghiệp, tỷ lệ hàng sản xuất theo dạng OEM (sản xuất theo đúng đơn hàng của khách) còn chiếm đến 80%, điều đó có nghĩa, hiệu suất kinh tế còn thấp. Ngành chế biến gỗ trong nước cần gia tăng mô hình sản xuất ODM (khách hàng chỉ phác thảo ý tưởng, phần còn lại do nhà sản xuất chịu trách nhiệm); doanh nghiệp cần đẩy mạnh kinh doanh sản phẩm có thiết kế, xây dựng hệ thống phân phối, thương hiệu riêng... để gia tăng giá trị.

          Vấn đề quan trọng là những nỗ lực của doanh nghiệp để gia tăng giá trị sản phẩm chứ không chỉ là phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu cao hơn con số 8 tỉ đô la của năm ngoái. “Mục tiêu doanh số 20 tỉ đô la Mỹ xuất khẩu vào năm 2025 là khá dễ dàng, bởi tiềm năng và cơ hội cho chúng ta còn rất lớn”, ông Thắng nói. 

Theo thesaigontimes.vn

 
 

Thêm 4.900 hectar rừng được chứng nhận là gỗ có chứng chỉ

            Gỗ có chứng chỉ vẫn là một khái niệm mới đối với đa số người dân Việt Nam. Một trong những lý do chính đó là các sản phẩm này ít được bày bán tại Việt Nam, do nhu cầu về chúng chưa có. Hầu hết sản phẩm làm từ gỗ có chứng chỉ được xuất khẩu. Nhưng điều này có thể thay đổi nếu như người tiêu dùng Việt Nam hiểu được vai trò của họ trong việc thúc đẩy quản lý và thương mại gỗ có trách nhiệm.

Lâm sản trách nhiệm. Ảnh TL

            Hơn 1.900 hectar rừng keo của công ty Bảo Châu vừa nhận được chứng chỉ Quản lý Rừng bền vững do Hội đồng Quản lý Rừng FSC chứng nhận; trở thành công ty đầu tiên của tỉnh Phú Yên nhận được chứng chỉ rừng quốc tế. Kết quả này nằm trong khuôn khổ dự án RAFT3.

            Dự án đã hỗ trợ thành công cam kết hướng tới sự bền vững 3 công ty trồng rừng tại tỉnh Phú Yên, Cà Mau và Bình Định. Các công ty này đang nỗ lực trồng và quản lý rừng theo các tiêu chuẩn của Hội đồng Quản trị rừng Thế giới (FSC). Với sự hỗ trợ kỹ thuật và thông qua các khoá tập huấn của WWF, gần 3.000 hectar rừng trồng của 2 công ty đã đạt được chứng chỉ FSC.

            Thương mại và Lâm sản có trách nhiệm châu Á (RAFT) là một chương trình hỗ trợ các quốc gia châu Á Thái Bình Dương thực hành quản lý và thương mại rừng bền vững và hợp pháp.

            Đối tác RAFT bao gồm 7 tổ chức phi chính phủ cùng hợp tác để thúc đẩy khả năng lãnh đạo, sáng kiến và năng lực quản lý rừng bền vững và thương mại lâm sản hợp pháp và có trách nhiệm dọc khu vực châu Á Thái Bình Dương.

            Với mục tiêu giảm 50% tỷ lệ phá rừng và suy thoái rừng nhiệt đới vào năm 2020, RAFT đã hợp tác cùng Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN) Việt Nam, với sự giúp đỡ của WWF, TRAFFIC và RECOFTC, thực hiện một dự án hai năm (2016-2018) nhằm thúc đẩy quản lý rừng bền vững, nhận dạng gỗ hợp pháp, thay đổi chính sách và bước đầu tạo thị trường nội địa cho các sản phẩm gỗ có trách nhiệm.

            Mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam sẽ đạt 350.000 hectar rừng trồng đạt chứng chỉ.

            Xuất khẩu đồ gỗ là một trong những ngành mang lại lợi nhuận cao cho Việt Nam, với tổng doanh thu năm 2017 là gần 8 tỷ USD.

            Các công ty trong nước thường hướng tới xuất khẩu sản phẩm sang các thị trường có lợi nhuận cao như châu Âu, Nhật hay Mỹ. Tuy nhiên, các thị trường này có nhiều yêu cầu khắt khe đối với các sản phẩm nhập khẩu, từ chất lượng cho tới tính hợp pháp, tác động về mặt xã hội và môi trường của sản phẩm.

            Những năm vừa qua, nhiều chương trình và chính sách đã được thông qua như: khuyến khích trồng rừng gỗ lớn theo Quyết định 147 của Thủ tướng ban hành năm 2007; đặc biệt là việc ký kết hiệp định Đối tác Tự nguyện trong Thực thi lâm luật, Quản trị và Thương mai Lâm sản (VPA/FLEGT), theo đó Việt Nam phải nâng cao quản lý rừng và thúc đẩy thương mại gỗ hợp pháp giữa Việt Nam và châu Âu.

            Luật Lâm nghiệp mới đã được thông qua tháng 11.2017 và sẽ chính thức có hiệu lực từ tháng 1.2019. Một điểm thay đổi lớn trong Luật Lâm nghiệp mới là việc đảm bảo thương mại sản phẩm gỗ có trách nhiệm và đẩy mạnh quản lý rừng bền vững.

            Hiện nay, Thông tư mới về quản lý rừng bền vững đang được lấy ý kiến tham vấn rộng rãi với các bên liên quan.

Theo http://nguoidothi.net.vn

 
 

Tăng ứng dụng kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây keo lai

             (TTV Online) Tìm ra giải pháp, giải quyết các khó khăn vướng mắc trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh cây keo lai theo hướng bền vững, sản xuất gỗ lớn thích ứng với biến đổi khí hậu cho các tỉnh Bắc Trung Bộ là nội dung của Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp vừa được Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp, Sở NN&PTNT Quảng Trị tổ chức.

             Ứng dụng kỹ thuật là cần thiết

             Diễn đàn “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh cây keo lai tại vùng Bắc Trung Bộ” thu hút sự quan tâm của hơn 220 đại biểu là các nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp, cán bộ khuyến nông và nông dân của 5 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế.\

Các đại biểu tham quan thực tế mô hình trồng rừng thâm canh cây keo lai tại xã Cam Thủy. Việt Toàn

             Trong những năm qua, nhờ hưởng lợi từ các chương trình, dự án đầu tư như 327, 661, Quyết định 147 của Chính phủ và các dự án đầu tư nước ngoài, phong trào trồng rừng kinh tế (chủ yếu là keo lai và keo lá tràm) tại các tỉnh Bắc Trung Bộ đã phát triển khá nhanh. Đến nay, keo lai đã trở thành cây trồng rừng chủ lực của vùng, đạt gần 112.000ha. Một số tỉnh như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế có diện tích trồng keo lai chiếm 70% diện tích rừng trồng.

             Các ý kiến tại diễn đàn thống nhất: Về mặt kinh tế, gỗ rừng trồng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sẽ có chất lượng cao hơn, đáp ứng được nhu cầu gỗ xẻ đưa vào kinh doanh hàng mộc dân dụng, thay thế dần gỗ rừng tự nhiên; Về mặt xã hội: Tạo được tâm lý tin tưởng của bà con nông dân trong áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào kinh doanh rừng trồng cây keo lai...

             Ưu điểm của cây keo lai là sinh trưởng nhanh về đường kính, chiều cao và hình khối, thân cây thẳng, cành nhánh nhỏ và phát triển tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt, có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện lập địa và các loại đất khác nhau. Hiện, người trồng rừng cây keo lai có thể thu nhập gấp đôi trước đây, bình quân 50-60 triệu đồng/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 70 - 80 triệu đồng/ha sau chu kỳ 6-7 năm trồng.

             Ngoài giá trị về mặt kinh tế, trồng rừng từ cây keo lai còn có giá trị về mặt môi trường như khả năng cải tạo và chống xói mòn đất. Keo lai được đưa vào trồng khảo nghiệm ở vùng Bắc Trung Bộ vào khoảng năm 1996, tuy nhiên sau hơn 20 năm gây trồng và phát triển, đến nay trồng rừng keo lai vẫn còn nhiều hạn chế, đó cũng là thách thức lớn đối với trồng rừng thâm canh cung cấp gỗ lớn, đặc biệt là trong phương pháp trồng rừng thâm canh. Vì vậy, việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh cây keo lai là rất cần thiết.

             Nông dân cần thay đổi thói quen

             Các đại biểu đã tham quan thực tế mô hình “Trồng rừng thâm canh cây keo lai ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao chất lượng gỗ” tại xã Cam Thủy, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Đây là mô hình được triển khai năm 2014, trên diện tích 5ha. Hiện nay, mô hình đang bước vào giai đoạn tỉa thưa. Trong quá trình tham quan tại thực địa, các đại biểu đã trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cây keo lai.

             Tại diễn đàn, trong phần trao đổi, các chuyên gia và ban cố vấn đã nhận và trả lời hơn 40 câu hỏi của bà con nông dân. Các câu hỏi chủ yếu tập trung vào các vấn đề chính như: Phương pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh cây keo lai theo hướng bền vững, sản xuất gỗ lớn; các kỹ thuật cần áp dụng; các vấn đề về thể chế và vai trò quản lý của Nhà nước đối với công tác quản lý trong trồng rừng thâm canh, các chính sách, biện pháp khuyến khích nhân rộng các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cho cây keo lai...

             Kết luận tại diễn đàn, TS.Trần Văn Khởi - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng rừng thâm canh cây keo lai theo hướng bền vững, sản xuất gỗ lớn ở Quảng Trị và các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Ông Khởi đề nghị Trung tâm Khoa học lâm nghiệp Bắc Trung Bộ tập trung nghiên cứu và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng Bắc Trung Bộ trong việc phát triển rừng kinh tế nói chung và phát triển rừng keo lai nói riêng. Đặc biệt giới thiệu các giống keo mới đã được công nhận và triển vọng vào sản xuất; giới thiệu một số kỹ thuật lâm sinh quan trọng dễ áp dụng để nông dân làm theo. Đề xuất các vùng, dạng lập địa phù hợp cho từng dạng rừng, để tư vấn cho chính quyền các địa phương xây dựng quy hoạch vùng sản xuất.

             Đối với hệ thống khuyến nông, cần tăng cường các hoạt động cho việc phát triển rừng keo lai như: Xây dựng mô hình, tập huấn, tham quan, hội thảo, trong đó việc truyền thông, tham quan, trao đổi kinh nghiệm là vô cùng quan trọng.

             Về phía nông dân, TS Khởi khuyến cáo bà con cần mạnh dạn thay đổi thói quen, tập quán không phù hợp trong sản xuất trồng rừng của mình, nhất là thay đổi nguồn giống mới và xử lý thực bì. Nông dân và doanh nghiệp cần nghiên cứu các chính sách của nhà nước như vốn hỗ trợ, vốn vay cho sản xuất và kinh doanh trồng rừng để đề xuất hỗ trợ.

Theo http://trangtraiviet.vn

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  370
Hôm nay:  978
Tháng hiện tại:  10336
Tổng lượt truy cập: 244949
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:0203.3846768 - Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn