TIN TỨC & SỰ KIỆN

Hiệp định VPA/FLEGT: Chắp cánh cho gỗ Việt xuất khẩu trực tiếp vào thị trường EU

              Việc Việt Nam tham gia ký Chương trình Thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) sẽ giúp các sản phẩm gỗ trong nước xuất khẩu trực tiếp vào 28 nước Liên minh châu Âu (EU) mà không cần phải qua một nước trung gian nào.

             

Gỗ Việt sẽ bay thẳng vào các nước EU khi tham gia Hiệp định VPA/FLEGT. Ảnh: Trần Quý

             Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), 11 tháng năm 2018, xuất khẩu lâm sản chính đã vượt mức 8 tỷ USD. Ước giá trị xuất khẩu lâm sản chính cả năm đạt 9,3 tỷ USD.

             Cụ thể, giá trị xuất khẩu lâm sản chính 11 tháng đầu năm 2018 ước đạt 8,49 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm 23,42% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn ngành.

             Trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 7,22 tỷ USD, tăng 15,63% so với cùng kỳ 2017. Giá trị xuất siêu của lâm sản chính 11 tháng ước đạt 6,398 tỷ USD. Ước giá trị xuất khẩu lâm sản chính cả năm đạt 9,3 tỷ USD.

             Đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đứng thứ 5 thế giới và số 1 châu Á trong lĩnh vực xuất khẩu gỗ và lâm sản.Đồ gỗ Việt Nam đã xuất khẩu sang 120 nước và vùng lãnh thổ. Trong đó, thị trường xuất khẩu lâm sản tập trung chủ yếu tại 5 thị trường lớn gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc và Hàn Quốc, chiếm khoảng 87,33% kim ngạch xuất khẩu lâm sản.

             Riêng kim ngạch xuất khẩu gỗ sang EU dự kiến sẽ tăng gấp đôi, từ 700 triệu USD hiện nay lên hơn 1 tỷ USD sau khi Hiệp định VPA/FLEGT được ký kết và có hiệu lực.

             Các cam kết của VPA/FLEGT đã được quy định trong Luật Lâm nghiệp Việt Nam, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2019. Đến đầu năm 2021, khi hiệp định chính thức đưa vào thực thi, cơ quan quản lý, người trồng rừng và doanh nghiệp (DN) gỗ Việt Nam sẽ sẵn sàng với các điều kiện cam kết.

             Tại Hội nghị “Định hướng, giải pháp phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu” vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu, trong 10 năm tới, Việt Nam phải trở thành trung tâm sản xuất, kinh doanh các sản phẩm gỗ có thương hiệu trên thế giới. Xuất khẩu các sản phẩm gỗ phải đạt 18 - 20 tỷ USD vào năm 2025.

             Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, với những kết quả đạt được từ các thị trường chính, con số kim ngạch xuất khẩu 20 tỷ USD với mặt hàng gỗ của Việt Nam vào năm 2025 hoàn toàn có thể đạt được.

             Hiệp định VPA/FLEGT sẽ giúp Việt Nam cải thiện thể chế về quản lý rừng, giải quyết tình trạng khai thác và thương mại gỗ trái phép, góp phần phát triển bền vững ngành chế biến gỗ xuất khẩu. Hiệp định VPA/FLEGT được dự đoán sẽ mang lại tác động tích cực cho Việt Nam trên cả 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó nổi bật hơn cả là lợi ích về kinh tế.

             Theo ông Nguyễn Quốc Trị - Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), việc thực thi Hiệp định VPA/FLEGT, các DN Việt Nam sẽ có quyền tiếp cận trực tiếp vào thị trường EU, mà không phải trải qua một quá trình kiểm tra tính hợp pháp rườm rà. Đây được xem là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với các nước không có một hiệp định VPA đầy đủ.

             Ông Nguyễn Tôn Quyền - Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam cho biết, với VPA/FLEGT, 100% gỗ xuất khẩu vào EU phải là gỗ hợp pháp, dù DN dùng gỗ nguyên liệu trong nước hay nhập khẩu thì vẫn phải đảm bảo đầy đủ hồ sơ, giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của gỗ. Điều này sẽ khiến cho chi phí tăng, DN phải thực hiện nhiều công đoạn để đảm bảo truy xuất nguồn gốc gỗ rõ ràng.

             Hiệp định VPA/FLEGT giữa Việt Nam và EU được ký kết sẽ tạo điều kiện để Việt Nam vận hành hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp (gọi tắt là VNTLAS) phù hợp với đặc điểm chuỗi cung của Việt Nam và quy định của EU để xác minh, truy xuất nguồn gốc gỗ trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Đây là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép FLEGT cho các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang EU.

             Đổi lại, các lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam có giấy phép FLEGT sẽ không phải thực hiện trách nhiệm giải trình về nguồn gốc gỗ hợp pháp theo quy định EUTR995 khi xuất khẩu vào EU. Đây được coi là “giấy thông hành đặc biệt” để các lô hàng gỗ của ta được tự do vào EU mà không phải làm thủ tục xác minh nguồn gốc gỗ hợp pháp.

             Khi thực hiện Hiệp định VPA/FLEGT, các sản phẩm gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp đã không còn là rào cản đối với DN Việt. Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, thực tế trong 10 năm trở lại đây, các DN chế biến, xuất khẩu gỗ đã làm rất tốt điều này, gỗ nguyên liệu đều có chứng chỉ rừng bền vững (FSC). Năm 2015, các DN trong hiệp hội cũng đã ký cam kết "nói không" với gỗ bất hợp pháp.

             “Thay vì phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, vốn rất khó khăn trong quá trình tìm kiếm để đảm bảo nguồn gốc rõ ràng, các DN đã chủ động liên kết với người trồng rừng để phát triển rừng bền vững, có chứng chỉ FSC”, ông Quyền cho biết.

                                                                                                                                                   Theo https://baomoi.com

 
 

Lào Cai đi đầu về thực hiện quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng.

          Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng là phương thức quản lý rừng tiên tiến, khoa học được giám sát và đánh giá khách quan thông qua các nguyên tắc và tiêu chí, chỉ số cụ thể. Với bộ nguyên tắc quản lý rừng bền vững do Bộ Nông nghiệp và PTNT đưa ra gồm 10 nguyên tắc với trên 100 tiêu chí. Ứng dụng bộ nguyên tắc này các chủ rừng đảm bảo thực hiện tốt việc quản lý rừng bền vững hài hòa ở cả 3 khía cạnh: Kinh tế - môi trường và xã hội.

          Từ năm 2014, khi Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT ngày 03/11/2014 về Hướng dẫn phương án quản lý rừng bền vững, tỉnh Lào Cai đã chỉ đạo và hướng dẫn các chủ rừng xây dựng và thực hiện quản lý rừng bền vững.

          Đến hết năm 2017, tỉnh Lào Cai đã có 05 chủ rừng thực hiện quản lý rừng bền vững gồm: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Yên, Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) các huyện: Bảo Yên, Bảo Thắng, Mường Khương, Bắc Hà. Trong đó Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Yên được cấp chứng chỉ rừng FSC 5.730 ha (rừng tự nhiên 3.700 ha và rừng trồng 2.730 ha). Tổng diện tích rừng được quản lý theo phương án quản lý rừng bền vững là56.364,33 ha (rừng tự nhiên: 41.119,49 ha, rừng trồng: 7.055,53 ha), chiếm 17% diện tích rừng toàn tỉnh. Tuy vậy, so với nhiều tỉnh trong cả nước, tỉnh Lào Cai vẫn là một trong những tỉnh đi đầu trong thực hiện phương thức quản lý rừng tiên tiến này.

          Bước đầu thực hiện quản lý rừng bền vững, thực hiện các nguyên tắc rất khoa học cho thấy hiệu quả rõ rệt, cụ thể: Số vụ vi phạm xâm hại rừng giảm; qua 3 năm thực hiện chưa có vụ đốt nương, xâm hại nào đến rừng. Người dân sẵn sàng phối hợp, hợp tác với các chủ rừng về bảo vệ các khu rừng đầu nguồn, rừng tâm linh, bảo tồn đa dạng sinh học; hợp tác, chia sẻ lợi ích trong góp vốn kinh doanh rừng sản xuất; giá bán lâm sản có chứng chỉ rừng FSC tăng từ 15 - 20% so với giá thị trường, xuất khẩu các mặt hàng gỗ rất thuận lợi v.v...

          Nhằm phát huy những ưu việt, khoa học của việc quản lý rừng bền vững; đồng thời triển khai thực hiện Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 - 2020, Quyết định số 1288/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, tỉnh Lào Cai tiếp tục chỉ đạo các sở, ngành có liên quan xây dựng Dự án quản lý rừng bền vững và cấp chỉ rừng tỉnh Lào cai giai doạn 2019 - 2030 với 2 mục tiêu chính gồm:

          Một là: Toàn bộ diện tích rừng hiện có 353.597 ha được quản lý theo phương án quản lý rừng bền vững.

          Hai là: Diện tích rừng trồng đạt tiêu chí để được công nhận và được cấp chứng chỉ rừng là 45% (rừng trồng sản xuất là 41%, rừng trồng phòng hộ là 60%) tương đương với 36.000 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ rừng.

          Với mục tiêu như vậy, quản lý rừng bền vững tỉnh Lào Cai dự kiến mang lại những lợi ích toàn diện gồm:

          - Về môi trường:Toàn bộ diện tích có rừng được bảo vệ tốt, đa dạng sinh học được bảo vệ, góp phần bảo vệ hệ sinh thái phong phú của Lào Cai gồm 958 loài động vật, 3.864 loài thực vật; trong đó có 354 loài thực vật đặc hữu, 195 loài thực vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ; có 158 loài động vật quý hiếm, 23 loài động vật quý hiếm đươc ghi trong sách đỏ... Cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; nâng tỷ lệ che phủ rừng 56,0% vào năm 2020; hạn chế thiên tai, tạo nguồn sinh thuỷ, cung cấp đủ nước cho sinh hoạt và sản xuất...

          - Về kinh tế: Thực hiện dự án này, các mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng được quản lý bền vững theo đúng tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế, hiệu quả kinh tế thu được cao hơn khu rừng bình thường khoảng 20%; đồng thời các khu rừng quản lý theo phương án bền vững còn thu được từ nhiều nguồn thu vè lâm sản ngoài gỗ, nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng v.v..., ước tính hiệu  quả kinh tế như sau:Tổng thu nhập từ dự án: 860,240 tỷ đồng (chỉ tính nguồn thu hiện có);Hiệu quả: 828,758 tỷ đồng/12 năm; bình quân 69,1 tỷ đồng/năm. Từ đó, góp phần từng bước tăng thu nhập cho người lao động tham gia nghề rừng.

         - Về xã hội và anh ninh quốc phòng: Với tổng số 429.349 ha rừng và đất lâm nghiệp; trong đó diện tích rừng là 417.719 ha được quản lý bảo vệ theo phương án quản lý rừng bền vững. Trong đó phần lớn là rừng ở vùng sâu vùng xa, vùng biên giới. Rừng ở những khu vực này có ý nghĩa rất quan trọng ngoài chức năng phòng hộ nguồn nước, tạo nguồn sinh thủy còn đặ biệt quan trọng về án ninh, quốc phòng, phòng hộ biên giới.

          Giải quyết việc làm bổ sung cho khoảng 22.000 hộ (433 cộng đồng, 44 tổ, 157 nhóm hộ và gần 300 hộ gia đình); tham gia bảo vệ rừng, khoanh nuôi rừng, trồng rừng...

          Với kinh nghiệm và quyết tâm của ngành lâm nghiệp, sự vào cuộc và chỉ đạo sát sao của hệ thống chính trị tỉnh Lào Cai luôn có sáng kiến, đi tắt, đón đầu, ứng dụng những giải pháp tiên tiến nhất vào quản lý, chỉ đạo thực hiện các mục tiêu của Dự án, chắc chắn Lào Cai sẽ luôn là tỉnh đi đầu trong cả nước về quản lý rừng bền vững, hiệu quả.

Ảnh: Khu vực rừng trồng Mỡ tại huyện Bát Xát

Trần Mạnh Tưởng – Chi cục Kiểm lâm Lào Cai

 
 

Hội nghị sơ kết thực hiện Quy chế phối hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản năm 2018

          Được sự đồng ý của Cục Kiểm lâm và Sở NN&PTNT thành phố Hải Phòng, ngày 23 tháng 11 năm 2018, tại Khu du lịch quốc tế Hòn Dầu - Đồ Sơn - thành phố Hải Phòng, Chi cục Kiểm lâm Vùng I phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Hải phòng tổ chức Hội nghị sơ kết đánh giá kết quả thực hiện quy chế phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm Vùng I với Chi cục Kiểm lâm các tỉnh trong vùng về công tác quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản năm 2018.

          Về dự và chỉ đạo Hội nghị có đồng chí Đỗ Trọng Kim - Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm, đồng chí Vũ Bá Công Phó Giám đốc Sở NN&PTNT thành phố Hải Phòng. Tham dự Hội nghị có 150 đại biểu, đại diện Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm, các Phòng, Đội trực thuộc Chi cục Kiểm lâm 19 tỉnh, thành khu vực phía Bắc, Chi cục Kiểm lâm Vùng 1 và Cục Kiểm lâm. Hội nghị cũng được đón tiếp đại biểu đại diện Lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm các Vùng 3, Vùng 4 thuộc Cục Kiểm lâm.

          Tại hội nghị này đã nghiêm túc kiểm điểm, nhìn nhận, đánh giá những nội dung, kết quả phối hợp đã thực hiện năm qua trong từng nội dung hoạt động của ngành, từ đó chỉ ra những tồn tại cần khắc phục và phát huy những kết quả đã đạt được, thống nhất các nội dung trọng tâm và các biện pháp để nâng cao hiệu quả của công tác phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm Vùng I với 19 Chi cục Kiểm lâm trong vùng, trong năm 2019 cụ thể như sau:

          1. Kết quả công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn vùng trong năm 2018:

Kết quả QLBVR và PTR trong năm 2018 đạt được nhiều tiến bộ so với cùng kỳ năm 2017, thể hiện trên cả ba mặt: Số vụ vi phạm giảm 492 vụ, tương đương giảm 13,32 %; thiệt hại tài nguyên rừng do hành vi trái pháp luật gây ra giảm 166,443 ha tương đương giảm 35,3%; độ che phủ của rừng tăng.

            Sự phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm Vùng I với các Chi cục Kiểm lâm trong vùng được triển khai toàn diện trên tất cả các mặt, với các giải pháp trọng tâm, triệt để, có hiệu quả. 

          Tuy nhiên, Hội nghị cũng thẳng thắn nhìn nhận: Mặc dù công tác QLBVR, PCCCR, PTR và quản lý lâm sản đã đạt được nhiều tiến bộ so với cùng kỳ năm 2017. Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, khai thác rừng, lấn chiếm đất rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng trái pháp luật vẫn còn xảy ra ở một số nơi; Công tác phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm vùng I với một số Chi cục Kiểm lâm trong vùng đôi lúc, đôi nơi còn chưa kịp thời, hiệu quả, chưa đáp ứng được mục đích của Quy chế phối hợp.

          2. Về giải pháp trọng tâm năm 2019.

          Hội nghị đã nhận định, đánh giá: Năm 2019, là năm đầu triển khai Luật Lâm nghiệp, 04 Nghị định và 07 Thông tư mới; bên cạnh những thuận lợi do chính sách, pháp luật mới mang lại thì vẫn có một số khó khăn như: việc triển khai chính sách, pháp luật mới bước đầu gặp khó khăn trong việc áp dụng trên thực tế; xu thế hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng, theo đó các cam kết quốc tế phải tuân thủ, nhất là Hiệp định đối tác tự nguyện với Liên Minh Châu Âu về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (Hiệp định VPA-FLEGT) đã được phê duyệt; việc triển khai theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp bằng phần mềm FRMS trên nền Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp đang tiếp tục hoàn thiện nhưng Dự án FORMIS II kết thúc,... 

          Trước bối cảnh đó, để phát huy những kết quả tích cực, khắc phục những hạn chế, tồn tại nhằm nâng cao hiệu quả của công tác phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm Vùng I với các Chi cục Kiểm lâm trong vùng, năm 2019, cần tập trung một số nội dung phối hợp trọng tâm, như sau:

          Một là: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tranh thủ mọi nguồn lực nhằm phối hợp tuyên truyền, tập huấn Luật Lâm nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành, nhằm tạo nhận thức thống nhất trong cách hiểu và áp dụng đúng pháp luật cho toàn thể Công chức, viên chức và người lao động trong ngành, đồng thời tuyên truyền đến mọi chủ thể trong xã hội để tạo ra sự đồng thuận, giúp đỡ lực lượng Kiểm lâm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

          Hai là: Phối hợp chặt chẽ trong triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của các bộ, ngành Trung ương trong công tác QLBVR, PCCCR, PTR, quản lý và thương mại lâm sản;

          Ba là: Tiếp tục phối hợp, hướng dẫn và hỗ trợ sử dụng phần mềm FRMS trong cập nhật diễn biến tài nguyên rừng. 

          Bốn là: Tăng cường phối hợp kiểm tra, truy quyét, xử lý các tụ điểm phá rừng, khai thác, mua, bán và cất giữ lâm sản trái pháp luật, đặc biệt là các vùng trọng điểm; phối hợp trong công tác thanh tra chuyên ngành, làm cơ sở tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương kiểm soát và thực hiện đúng trình tự pháp luật về CMĐSDR, góp phần nâng cao uy tín của ngành và đảm bảo chấp hành pháp luật trên địa bàn.

          Năm là: chủ động, tích cực trong việc thông tin trao đổi, đề xuất giải pháp, biện pháp, nhiệm vụ cụ thể của mỗi cơ quan, đơn vị trong việc xử lý thông tin trên báo viết, báo điện tử, báo hình... có liên quan đến công tác QLBVR, QLLS trên địa bàn các tỉnh, để xử lý và đề xuất xử lý kịp thời, đúng pháp luật các vụ việc vi phạm (nếu có); không tạo điểm nóng trong dư luận xã hội.

          Sáu là: Tiếp tục duy trì, phối hợp nghiêm túc, hiệu quả trong trao đổi thông tin, tổng hợp báo cáo định kỳ tuần, tháng, quý, năm; báo cáo xử lý thông tin báo chí về các vụ việc trên địa bàn và báo cáo chuyên đề theo đúng nội dung của Quy chế phối hợp.

          Bảy là: Phối hợp trong ứng trực thường trực, tăng cường thiết bị, phương tiện PCCCR cho các địa phương.

          Tám là: Phối hợp trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ; thực hiện chuyển giao, tiếp nhận và áp dụng kết quả đạt được vào thực tế công tác.

          Chín là: Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng chương trình, kế hoạch phối hợp cụ thể giữa Chi cục Kiểm lâm Vùng I với từng Chi cục Kiểm lâm tỉnh đảm bảo bám sát nhiệm vụ trọng tâm, phù hợp với đặc thù của từng địa phương.

          Dưới đây là một số hình ảnh của Hội nghị:

Văn Nghệ chào mừng Hội nghị

Đ/C Đỗ Thị Lâm - Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Vùng 1 đọc báo cáo sơ kết thực hiện quy chế phối hợp năm 2018

Đ/c Đỗ trọng Kim - Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Đại diện lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm trong vùng phát biểu tham luận

Đ/C Trần Văn triển Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Vùng I phát biểu bế mạc Hội nghị

 

Tin bài:  Đào Văn Doanh

 
 

Than Đèo nai: Biến bãi thải ô nhiễm thành những cánh rừng tươi

          TNV – Hơn chục năm gần đây, bãi thải Nam nằm án ngữ ở phía Bắc thành phố Cẩm Phả không còn trơ trụi một màu đất đá vàng xám xịt. Thay vào đó, nơi đây đã được trồng cây phủ một màu xanh biếc, xuất hiện những dải rừng keo, rừng thông rậm rạp um tùm, nhiều loài chim muông, chồn sóc, bò sát… đã rủ nhau về véo von sinh sống. Dưới chân bãi thải được qui hoạch thành các hồ nước có tác dụng điều hoà sinh thái, cảnh quan trở lên tươi đẹp hơn, những buổi sáng sớm và chiều tà từng tốp bà con địa phương thong dong đi bộ, tận hưởng không khí trong lành, nâng cao sức khỏe.

          Xử lý triệt để ô nhiễm môi trường ở bãi thải Nam Đèo nai

          Bãi thải Nam Đèo Nai là khu vực chứa đất đá thải chính của 02 mỏ than: Đèo Nai và Cọc Sáu. Sau hơn 40 năm tồn tại, lượng đất đá đổ thải ra khu vưc bãi thải này sấp sỉ 200 triệu m3. Sau khi có quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/04/2003 của Thủ Tướng chính phủ, từ cuối năm 2003 Công ty cổ phần Than Đèo Nai đã dừng đổ thải đất đá ở khu vực bãi thải Nam Đèo Nai. Khối lượng đất đá thải của Mỏ được vận chuyển ra đổ thải tại bãi thải Mông Giăng và bãi thải Đông Cao Sơn.

          Bãi thải Nam Đèo Nai ô nhiễm ngày nào giờ đã là rừng keo, rừng thông rậm rạp um tùm cây cối cao hàng chục mét, nhiều loài chim muông, chồn sóc, bò sát… rủ nhau về véo von sinh sống. Ảnh: P. Quỳnh.

          Bắt đầu từ năm 2004, bãi thải Nam Đèo Nai được cải tạo san cắt tầng, tạo thành 8 tầng thải với chiều cao mỗi tầng từ 20 đến 35 mét (chỉ có 02 tầng cao trên 50m); chiều rộng mặt tầng từ 30 đến 50m, độ dốc chung của sườn bãi thải từ 240đến 260. Trên mặt mỗi tầng thải đều xây dựng đê chắn nước ở mép tầng với chiều cao từ 2 đến 3 m, chiều rộng mặt đê từ 8 đến 10 m; phía bên trong là đường liên lạc và hệ thống rãnh thoát nước dọc tầng nhằm giữ ổn định bờ bãi thải, ngăn chặn hiện tượng sói mòn đất đá thải. Đồng thời, dùng máy xúc kết hợp với ôtô xúc bốc hạ thấp góc dốc bờ bãi thải tại các khu vực không ổn định, đổ thêm đất đá vào các khu vực lõm tạo thành các tầng thải thấp, tạo điều kiện xây dựng hệ thống thu gom nước bề mặt, không cho chảy tràn xuống sườn tầng, giảm sói lở sườn bãi thải, tạo điều kiện trồng cây xanh che phủ sườn bãi thải tạo cảnh quan môi trường.

          Do khối lượng thi công lớn (đào cắt tầng thải là 894.200 m, khối lượng đắp  6.402.343 m3), và gặp nhiều khó khăn, nên công tác san cắt tầng thải, nạo vét các mương, suối thoát nước dưới chân bãi thải, xây dựng hệ thống thu gom nước bề mặt kéo dài từ năm 2004 đến giữa năm 2006 mới hoàn thành. Toàn bộ nguồn vốn đầu tư khoảng 30 tỷ đồng được tính vào chi phí sản suất của Công ty cổ phần Than Đèo Nai.

          Với tổng diện tích 120 ha, Công ty cổ phần Than Đèo Nai đã đầu tư gần 7,3 tỷ đồng trồng cây phủ xanh, sườn, mặt  bãi thải, bao gồm: Trồng cây ven đường giao thông, trên mặt đê ở mép tầng, trồng cây tập trung trên mặt tầng diện tích có diện tích 30 ha; trồng cây trên sườn tầng diện tích 90 ha.

No name

Hồ nước dưới chân bãi thải có tác dụng điều hoà sinh thái, cảnh quan trở lên tươi đẹp hơn, những buổi sáng sớm và chiều tà từng tốp bà con địa phương thong dong đi bộ, tận hưởng không khí trong lành, nâng cao sức khỏe. Ảnh: Đ. Luyện.

          Theo đó, tại các khu vực bãi thải  tầng cao kém ổn định, đất đá có độ liên kết yếu, Công ty đã tiến hành trồng cỏ Vetiver để tạo sự ổn định sườn bãi thải với diện tích 16,8 ha. Ngoài ra, Công ty còn tiến hành trồng cây bóng mát dọc tuyến đường bê tông chân bãi thải Nam, trồng các loại cây hoa giấy, cây phượng, cây liễu hoa đỏ, cây trâm bầu để tạo cảnh quan đẹp xung quanh khu vực bãi thải. Tháng 8 năm 2009, được Sở TNMT Quảng Ninh ra Quyết định công nhận Công ty cổ phần Than Đèo Nai đã hoàn thành các biện pháp xử lý triệt để ô nhiễm môi trường theo Quyết định 64/2003/ QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ.

          Những cánh rừng rậm rạp, chim muông, chồn sóc rủ nhau về

          Kể từ ngày hoàn thành xong việc cắt tầng và trồng cây phủ xanh toàn bộ bãi thải, mỗi năm vào mùa mưa Công ty không phải lo điều động hàng trăm ca máy xúc, xe gạt, ôtô để nạo vét đất đá trôi tạo sự thông thoáng dòng chảy và ổn định sườn bãi thải cũng như nguy cơ sạt lở khối lượng lớn đất đá gây nguy hiểm cho dân cư khu vực dưới chân bãi thải như trước khi thực hiện dự án.

          Mặt khác, nhờ có hệ thống thu gom nước bề mặt dẫn vào hệ thống thoát nước kiên cố dẫn xuống chân bãi thải và sườn bãi thải được trồng cây phủ xanh nên hiện tượng sói mòn bề mặt bãi thải giảm đi rõ rệt. Đặc biệt, trước đây lượng bụi phát sinh từ các hoạt động vận chuyển đất đá thải, đổ thải thường vượt quá tiêu chuẩn cho phép về vệ sinh lao động và tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí xung quanh (khu vực giáp ranh bãi thải Nam những năm 2002 và 2003 nồng độ bụi cao gấp từ 1,05 đến 1,4 lần TCCP), nhưng từ khi ngừng đổ thải và tiến hành trồng rừng hoàn nguyên môi trường, lượng bụi phát sinh do gió mạnh thổi vào sườn bãi thải không còn nữa.

Công nhân thuộc tổ bảo vệ môi trường đang phát quang bụi rậm và tỉa cành, vừa để thoáng thoáng đường giao thông vừa phòng cháy chữa cháy rừng. Ảnh: P. Quỳnh.

          Hơn chục năm gần đây, bãi thải Nam với chiều dài trên 3km, chiều cao 250m nằm án ngữ ở phía Bắc khu vực dân cư thành phố Cẩm Phả không còn trơ trụi một màu đất đá vàng xám xịt làm xấu đi cảnh quan khu vực. Thay vào đó, nơi đây đã được trồng cây phủ một màu xanh biếc, xuất hiện những dải rừng keo, rừng thông rậm rạp um tùm cây cối cao hàng chục mét, nhiều loài chim muông (chào mào, chim cu gáy, cò, le le, chim sẻ, chim sâu), chồn sóc, bò sát… đã rủ nhau về véo von sinh sống. Khu vực dưới chân bãi thải được qui hoạch thành các hồ nước có tác dụng điều hoà sinh thái, cảnh quan trở lên tươi đẹp hơn, những buổi sáng sớm và chiều tà từng tốp bà con địa phương thong dong đi bộ, tận hưởng không khí trong lành, nâng cao sức khỏe.

          Một ngày trung tuần tháng Mười vừa qua, theo chân cán bộ của Hạt Kiểm lâm Cẩm Phả vào thăm bãi thải than ô nhiễm suốt mấy chục năm trước. Con đường uốn lượn nằm len lỏi giữa những hàng cây keo, cây phi lao hơn chục năm tuổi cao vút vươn cành tỏa tán xanh rợp con đường. Ngắm nhìn những vạt rừng chằng chịt cây cối ôm quanh núi thải chạy từ chân lên đỉnh một màu xanh thẫm, thấp thoáng những chú chim nhảy nhót chuyền cành, mà cứ ngỡ như dáng dấp của của một khu bảo thiên nhiên hay khu sinh thái đang hiện hữu ngay trước mặt.

          Do cây lá sum suê, rậm rạp, bên đường hơn chục công nhân thuộc tổ bảo vệ môi trường do đốc công Nguyễn Chí Thanh phụ trách đang mải miết phát quang bụi rậm và tỉa cành, vừa để thoáng thoáng đường giao thông vừa phòng cháy chữa cháy rừng.

Ngắm nhìn những vạt rừng chằng chịt cây cối ôm quanh núi thải chạy từ chân lên đỉnh một màu xanh thẫm, thấp thoáng những chú chim nhảy nhót chuyền cành, mà cứ ngỡ như dáng dấp của của một khu bảo thiên nhiên hay khu sinh thái đang hiện hữu ngay trước mặt. Bởi vậy, đây là nơi được nhiều người chọn dừng chân chụp ảnh lưu niệm. Ảnh: P. Quỳnh.

          Bên cạnh việc tiếp tục trồng dặm, chăm sóc và bảo vệ diện tích cây đã trồng trên bãi thải Nam Đèo Nai đảm bảo phát triển tốt, tăng diện tích che phủ làm giảm hiện tượng sói mòn bề mặt bãi thải, cải thiện môi trường trong khu vực, thì hàng năm Công ty đều chú trọng tới công tác PCCCR – ông Nguyễn Tiến Kế (Trưởng phòng Bảo vệ Công ty cổ phần Than Đèo Nai) cho biết.

          Theo Phó Giám đốc Công ty Nguyễn Ngọc Tùng, đến hết năm 2017 Công ty cổ phần Than Đèo Nai đã trồng được 203,25 ha rừng; trong đó: Bãi thải Nam Đèo Nai 118,3 ha; bãi thải Mông Gioăng 54,5 ha; bãi thải Đông Khe Sim 25 ha; bãi thải trong Lộ Trí 4,84 ha. Tính đến tháng 10/2018, Công ty đã tiến hành trồng mới tại bãi thải Nam Khe Tam, Đông Khe Sim và bãi thải trong Lộ Trí là 10ha; trồng bổ sung và trồng dặm bãi thải Mông Giăng 12ha rừng.

30 ha rừng phi lao và thông mới trồng đầu xuân 2017 đang bén rễ, đâm chồi lên xanh trên bãi thải Đông Khe Sim ở độ cao 300m. Ảnh: P. Quỳnh

          Với kinh nghiệm 40 năm công tác trong ngành Kiểm lâm ở vùng than Quảng Ninh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Cẩm Phả – Hà Xuân Kinh khẳng định: Trong số gần 20 đơn vị doanh nghiệp khai than trên địa bàn Cẩm Phả liên quan tới trồng rừng hoàn nguyên môi trường, thì Công ty cổ phần Than Đèo Nai là đơn vị dẫn đầu trong trong tác trồng rừng hoàn nguyên môi trường cũng như quản lý bảo vệ rừng trồng; biến những bãi thải ô nhiễm ngày nào thành các cánh rừng tươi xanh của thành phố.

          Số liệu từ Hạt Kiểm lâm TP Cẩm Phả cho biết: Hiện tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố là 36.852,8 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 24.088 ha, diện tích có rừng là 18.300 ha nằm trên 16 phường xã, tỷ lệ che phủ rừng năm 2017 đạt 47,6%.

          Trên địa bàn thành phố có 16 đơn vị khai thác than, những năm gần đây mỗi năm sử dụng diện tích đất lâm nghiệp sang mục đích khác từ 50 đến 100 ha. Căn cứ số liệu kiểm kê rừng năm 2016, diện tích rừng trồng cải tạo phục hồi môi trường từ các bãi thải có diện tích rừng là 1.681 ha, bình quân mỗi đơn vị ngành than trồng khoảng 100 ha rừng.

          Các đơn vị có phong trào trồng cây đạt hiệu quả tốt đó là Công ty cổ phần Than Đèo Nai, Khe Sim, Cọc 6, Khe Chàm, Mông Dương…Các diện tích rừng hiện phát triển tốt tạo thêm môi trường xanh cho thành phố. Trong đó, Công ty cổ phần Than Đèo Nai là lá cờ đầu trong việc trồng cây, trồng rừng phủ xanh các bãi thải; đến hết 2017, đơn vị đã trồng được 203,28 ha (bằng hơn 200% diện tích rừng trồng bình quân của các đơn vị trong thành phố), loài cây trồng chủ yếu là keo lá tràm bông vàng. Dự kiến năm 2018 trồng 39,55 ha rừng cải tạo môi trường sau khai thác than.

          Qua các đoàn kiểm tra liên ngành và đặc biệt là đoàn kiểm tra của Hội đồng nhân dân Thành phố Cẩm Phả đã đánh giá: Than Đèo Nai là đơn vị có diện tích rừng lớn trong ngành than trên địa bàn. Diện tích cây trồng tập trung có tỷ lệ sống cao và đến nay đã thành rừng khép tán. Các khâu san gạt bãi thải đều làm mặt bằng tốt, chọn lựa cây trồng cũng tốt hơn, quá trình làm đất cải tạo môi trường được đảm bảo. Công tác phòng cháy chữa cháy được chú trọng như tuần tra, kiểm soát nghiêm ngặt vào mùa khô hanh đối với các khu rừng; hệ thống đường băng cản lửa, đường giao thông thuận lợi cho xe cơ giới tiếp cận các cánh rừng khi xảy ra cháy, sẵn sàng ứng trực nhiều xe chở nước chữa cháy…do đó thiệt hại do cháy gây ra là không đáng kể. Khi rừng lên xanh và khép tán đã có các loài động vật hoang dã đến cư trú như các loài chim, rắn, khỉ…tạo lên hệ sinh thái môi trường phong phú.

Theo http://thanhnienviet.vn

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  46
Hôm nay:  138
Tháng hiện tại:  14468
Tổng lượt truy cập: 310695
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:0203.3846768 - Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn