Khoa học công nghệ

Lợi ích kép từ trồng rừng gỗ lớn

          Hiệu quả kinh tế từ mô hình trồng rừng gỗ lớn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao cho các hộ gia đình, tạo công ăn việc làm, giúp xóa đói, giảm nghèo cho bà con các dân tộc miền núi,mà còn thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp phát triển bền vững; đồng thời, góp phần bảo vệ môi trường, sinh thái, chống biến đổi khí hậu toàn cầu; đặc biệt, khi mùa mưa đến sẽ làm giảm xói mòn, rửa trôi đất, phòng chống lũ lụt, hạn hán. Tuy nhiên, mô hình này vẫn chưa phát triển rộng rãi tương xứng với tiềm năng sẵn có tại các địa phương.

         Theo đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp, đến năm 2020, diện tích vùng trồng rừng gỗ lớn trên cả nước vào khoảng 1,2 triệu ha, để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ. Để đạt được mục tiêu này, việc hỗ trợ vốn vay cho người trồng rừng, cũng như đưa giống mới, có năng suất cao vào trồng rừng, áp dụng khoa học kỹ thuật từ khâu làm đất, xác định mật độ trồng, bón phân, chăm sóc rừng để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả rừng trồng cho người dân cần được tiến hành đồng bộ.

Mô hình trồng rừng gỗ lớn của C.Ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế, Bắc Giang

         Từ khi triển khai dự án “Xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn (Keo lai, Keo tai tượng) và chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn” thuộc dự án Khuyến nông Trung ương do Vụ Phát triển rừng chủ trì, được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2014 - 2016, tỉnh đã trồng được 120 ha rừng thâm canh gỗ lớn, với 70 hộ gia đình tham gia; đồng thời, đã thực hiện chuyển hóa được 55 ha rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn, với 38 hộ gia đình tham gia; cả hai mô hình trên đều được thực hiện trên địa bàn các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và huyện Yên Thế.

         Thời điểm khi bắt đầu triển khai thực hiện dự án rất nhiều người dân không khỏi nghi ngờ về tính khả thi của dự án, bởi theo quan điểm của các chủ rừng, phát triển gỗ nhỏ (chu kỳ từ 5 - 7 năm), có nguồn thu nhanh hơn, sẽ sớm quay vòng đầu tư tiếp, hơn nữa thu hoạch từ rừng chồi cũng được người trồng rừng cho là hiệu quả hơn so với phát triển rừng gỗ lớn. Tuy nhiên, thông qua 09 lớp tập huấn và 03 lớp hội thảo đầu bờ, nhờ tích cực tuyên truyền vận động, cùng với sự hỗ trợ ban đầu của dự án về cây giống, phân bón, kỹ thuật chăm sóc,... Người dân đã dần hiểu và thấy được lợi ích, nên đã đồng thuận tích cực tham gia dự án.

         Sau 03 năm thực hiện dự án, cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, trữ lượng rừng, lượng tăng trưởng bình quân của rừng sau chuyển hóa tăng cao. Rừng trồng mô hình thâm canh gỗ lớn chiều cao vút ngọn bình quân đạt 5,6 m, đường kính gốc bình quân đạt 6,6 cm (rừng trồng thông thường, cùng loài cây và trong cùng điều kiện lập địa là 5,4 cm).Đối với mô hình chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn sau khi có sự điều chỉnh về mật cây trồng xuống còn 900 cây/ha, tạo không gian dinh dưỡng, đồng thời có tác động bón phân, nên đã có sự khác biệt tăng trưởng về chiều cao và đường kính, trữ lượng gỗ bình quân đạt 135,36 m3/ha (rừng trồng không chuyển hóa chỉ đạt 117,8 m3/ha cùng loài cây và trong cùng điều kiện lập địa).

         Tới thăm mô hình trồng rừng gỗ lớn của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Điều, tại Bản Soan, xã Xuân Lương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, sau khi dẫn chúng tôi thăm mô hình trồng rừng gỗ lớn của gia đình, ông bày tỏ: “Tháng 3 năm 2015, gia đình tôi tham gia dự án trồng rừng thâm canh gỗ lớn, với diện tích 10 ha, loài cây trồng là Keo tai tượng, được dự án Khuyến nông Trung ương hỗ trợ về giống cây trồng, phân bón NPK, kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng theo từng giai đoạn, hiện nay rừng đang sinh trưởng rất tốt, chiều cao vút ngọn của cây trung bình khoảng 7,0 m, đường kính gốc bình quân đạt 6,8 cm, gia đình rất phấn khởi với mô hình này. Tôi thường xuyên tuyên tuyền tới các chủ rừng tham gia trồng rừng gỗ lớn, cũng như chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn, không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao, mà còn góp phần làm giảm xói mòn, rửa trôi đất, phòng chống lũ lụt, hạn hán tại địa phương”.

         Theo tính toán của các chuyên gia về lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp, với 01 ha rừng trồng loài Keo, sau khoảng 06 năm trồng rồi khai thác sẽ cho khoảng 90 m3 gỗ tròn. Ngược lại, nếu không khai thác gỗ non, để lại chăm sóc thêm 5 - 6 năm nữa, trở thành rừng gỗ lớn mới khai thác, khi đó trữ lượng gỗ sẽ tăng gấp đôi, giá bán cũng cao gấp 2 - 3 lần, tùy kích thước gỗ khi khai thác. Cùng với đó, người trồng rừng gỗ nhỏ phải 02 lần đầu tư, nhằm tái trồng rừng lứa thứ 02, với chi phí trung bình khoảng 60 triệu đồng/ha, thì rừng gỗ lớn chỉ phải đầu tư 01 lần, với tổng chi phí trung bình khoảng 40 triệu đồng/ha, chu kỳ trồng rừng gỗ lớn tuy gấp đôi, nhưng hiệu quả kinh tế lại cao gấp 2 - 3 lần rừng gỗ nhỏ.

         Thực tiễn cho thấy lợi ích kinh tế và môi trường của rừng gỗ lớn cao, nhưng hiện nay đa số các chủ rừng lại lựa chọn mô hình trồng rừng gỗ nhỏ truyền thống. Nguyên nhân, do đa số người trồng rừng có diện tích nhỏ, kinh tế phần lớn có thu nhập thấp, nên không có điều kiện tài chính để theo chu kỳ sau 10 - 14 năm trồng mới khai thác cho gỗ lớn; bởi vậy, người dân vẫn chấp nhận trồng rừng gỗ nhỏ để trang trải cuộc sống và quay vòng vốn. Mặt khác, trồng rừng gỗ lớn còn gặp rủi ro do gió, bão làm gãy đổ cây rừng,... Trong khi chúng ta chưa có bảo hiểm rừng trồng, Nhà nước cũng chưa có chính sách hỗ trợ tín dụng cho trồng rừng gỗ lớn.

         Cùng với đó, hầu hết người trồng rừng phải đối mặt với khó khăn trong việc bảo vệ cây trồng, nhất là khi cây gỗ đã đạt đường kính để khai thác, kẻ trộm thường chọn cây lớn để chặt hạ, bỏ lại những cây nhỏ; vì vậy, để bảo vệ lợi ích của mình, người trồng rừng khai thác cây khi đáp ứng được yêu cầu băm dăm hoặc làm bột giấy.

Lực lượng Kiểm lâm Bắc Giang kiểm tra mô hình trồng rừng gỗ lớn tại xã Phong Minh, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

         Ông Nguyễn Quốc Dự, Phó Chi cục trưởng - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Giang cho biết: “Trồng rừng gỗ lớn đang là xu hướng trên thế giới và cũng là giải pháp quan trọng để thay đổi thực trạng kinh doanh lâm nghiệp hiện nay. Để phát triển mô hình trồng rừng gỗ lớn có lợi ích kép này, Chi cục Kiểm lâm sẽ chỉ đạo các đơn vị cơ sở tiếp tục tuyên truyền về hiệu quả kinh tế, môi trường, cũng như hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa từ rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn;đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp, hộ gia đình liên kết đầu tư kinh phí trồng rừng thâm canh gỗ lớn, nhằm không ngừng phát triển diện tích rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh, để tương xứng với tiềm năng sẵn có tại địa phương”.

                                                                          

                                                                                Dương Đại Tiến

 
 

Giới thiệu phần mềm Co2Fix V 3.1 và các ứng dụng trong tính toán sinh khối và giá trị của rừng

Giới thiệu phần mềm Co2Fix V 3.1

và các ứng dụng trong tính toán sinh khối và giá trị của rừng

Dương Tiến Đức, Cao Chí Khiêm, Bùi Thanh Hằng

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU

          Quá trình công nghiệp hoá cộng với sự lạm dụng quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên trong quá khứ đã khiến trái đất có những biểu hiện suy tổn: sự nóng lên của trái đất, thủng tầng ô-zôn, cạn kiệt nguồn nước ngầm… Hiện tại, các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực cộng tác để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường và bảo vệ trái đất, trong đó Nghị định thư Kyoto ra đời tháng 12 năm 1997 với điểm quan trọng nhất là việc ấn định các chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính càng thể hiện sự quyết tâm trên. Trong các cơ chế của Nghị định thư Kyoto, cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism) có liên quan nhiều nhất đến các nước đang phát triển. Các dự án CDM và liên quan của nó đến các “dự án tiềm năng trong lâm nghiệp, thay đổi sử dụng đất” tuy mới ra đời nhưng đã có những hiệu quả nhất định sẽ mở ra cơ hội cho các nước trên hướng tới sự phát triển bền vững. Trong những khâu của các dự án trên, công việc tính toán sinh khối và các giá trị carbon có liên quan là hết sức cần thiết.

       Trong phạm vi bài báo này, chúng tôi xin giới thiệu phần mềm CO2FIX Version 3.1 do nhóm các tác giả thuộc nhóm nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng và sinh thái rừng – Trường đại học tổng hợp Wageningen – Hà lan phát triển trong khuôn khổ của Dự án CASFOR II – tài trợ bởi chương trình của Uỷ ban Châu Âu INCO2 (ICA4 – 2001 – 10100), Bộ Nông nghiệp – Quản lý thiên nhiên và Thuỷ sản của Hà Lan và Hội đồng Quốc gia về Khoa học – Công nghệ của Mêhicô thông qua dự án 32715 – N.

       Phần mềm này sẽ góp phần vào việc tính toán sinh khối – giá trị carbon của rừng cho các nhà lâm nghiệp Việt Nam và các tổ chức, cá nhân quan tâm đến lĩnh vực này.

       Từ khoá: trồng cây –  gây rừng, nông lâm kết hợp, công nghệ sinh học, sinh khối, tính toán giá trị các bon,  nghị định thư Kioto...

Chi Tiết (Download tại đây)

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  21
Hôm nay:  43
Tháng hiện tại:  7997
Tổng lượt truy cập: 184781
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:033.3846768 -  Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn