HOẠT ĐỘNG

Kết quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng năm 2015 khu vực phía Bắc

Tài nguyên rừng khu vực 19 tỉnh phía Bắckhông những có giá trị cao về kinh tế, mà còn có vai trò quan trọng về phòng hộ, bảo vệ môi trường, lưu giữ nhiều giá trị đa dạng sinh học của quốc gia và khu vực, đồng thời, vừa có ý nghĩa quan trọng về an ninh quốc phòng. 

Trong những năm gần đây, phát triển lâm nghiệp ở các tỉnh trong  khu vực có sức thu hút đầu tư mạnh mẽ. Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp đang được các địa phương quan tâm chỉ đạo triển khai quyết liệt. Cấp uỷ Đảng và Chính quyền các cấp tích cực triển khai thực hiện, cụ thể hoá thành các Nghị quyết chuyên đề, các kế hoạch thực hiện trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Do vậy, về cơ bản tài nguyên rừng đã và đang được quản lý, bảo vệ tốt; tình hình vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, tình trạng phá rừng có quy mô lớn đã được hạn chế. Đã có những mô hình bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả ở các địa phương, góp phần quan trọng vào việc khôi phục lại diện tích rừng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Thể hiện trên một số chỉ tiêu sau:

1. Về hiện trạng tài nguyên rừng và công tác giao đất lâm nghiệp

Theo số liệu theo dõi diễn biến rừng năm 2014 được công bố tại Quyết định số 3135/QĐ-BNN-TCLN ngày 06/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện trạng rừng trong cả nước và khu vực như sau:

- Toàn quốc: Tổng diện tích rừng và cây lâu năm (có tán che như rừng) trong cả nước là: 13.796.056ha, giảm 157.948ha so với năm 2013. trong đó: rừng đặc dụng: 2.085.132ha, chiếm 15,1%; rừng phòng hộ: 4.564.537ha, chiếm 33,1%%; rừng sản xuất: 6.751.923ha, chiếm 48,9%; rừng ngoài quy hoạch 3 loại rừng: 394.914ha, chiếm 2,9%. Độ che phủ bình quân cả nước là 39,02%.

- Diện tích rừng 19 tỉnh khu vực phía Bắc: Diện tích có rừng đến 31/12/2014 là 5.204.790 triệu ha (chiếm 37,7% diện tích rừng trong cả nước), tăng 87.854ha so với năm 2013.

+ Rừng tự nhiên là 3.746.285 ha, chiếm 72%.

+ Rừng trồng là 1.458.508 ha, chiếm 28%.

- Tỷ lệ che phủ bình quân là 47,95%.

Về giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp: Đã thực hiện giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình, UBND xã quản lý là 1.936.091 ha (trong đó: Giao cho tổ chức 343.680 ha; hộ gia đình 979.326 ha; cộng đồng 163.278 ha, UBND xã quản lý 64.401ha), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng với 1.424.963 ha.

2. Tình hình vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng

Thống kê báo cáo từ Chi cục Kiểm lâm các tỉnh trong khu vực, dến 25/10/2015, trên địa bàn đã phát hiện4.828 vụvi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng, giảm919 vụ (giảm tương đương 19%) so với cùng kỳ năm 2014.

Các hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản tập trung ở các lĩnh vực như:

- Hành vi phá rừng trái pháp luật  654 vụ giảm 268 vụ so với cùng kỳ năm 2014. Diện tích rừng bị phá 266,57ha tăng 48,39 ha so với cùng kỳ năm 2014;

- Hành vi khai thác lâm sản trái phép 282 vụ, giảm 45 vụ so với cùng kỳ năm 2014.

- Hành vi mua, bán, vận chuyển lâm sản trái phép 2.284 vụ, giảm 362 vụ so với cùng kỳ năm 2014.

- Hành vi vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng 315 vụ, trong đó 278 vụ cháy rừngg, diện tích rừng bị thiệt hại là 591,75 ha; tăng 51 vụ và giảm 204,05 ha diện tích thiệt hại so với cùng kỳ năm 2014.

Tổng số vụ vi phạm đã xử lý: 4.443 vụ, đạt 92%, trong đó xử phạt vi phạm hành chính 4.392 vụ, xử lý hình sự 51 vụ.

3. Về công tác phát triển rừng, khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh 

Thực hiện kế hoạch phát triển rừng năm 2015, cùng với việc mạnh dạn đầu tư vốn, cây giống, công lao động để trồng trừng, chăm sóc, bảo vệ rừng được giao của các tổ chức, hộ gia đình , diện tích rừng trồng ngày càng tăng, chất lượng rừng trồng ngày càng được cải thiện; khuyến khích thu hút các thành phần kinh tế tham gia đầu tư trồng rừng, bảo vệ rừng và chế biến lâm sản. Năm 2015, kết quả  thực hiện công tác phát triển rừng trên phạm vi toàn vùng như sau: Sản xuất cây giống đạt 302.313 ngàn cây, diện tích trồng rừng là 121.657 ha (rừng đặc dụng, phòng hộ: 8.409 ha; rừng sản xuất: 110.504 ha, trồng thay thế: 2.799 ha), trồng cây phân tán là 27.161.000 cây lâm nghiệp.

Công tác khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh tự nhiên đã được các địa phương chú trọng, đẩy mạnh thực hiện. Kết quả năm 2015, đã thực hiện giao khoán được 2.427.127 ha (nguồn vốn Trung ương: 946.458 ha, nguồn vốn địa phương: 174.123 ha, vốn từ DVMTR: 1.212.490 ha, vốn  ODA: 58.292 ha, nguồn khác: 35.765 ha); khoanh nuôi tái sinh là 192.762 ha (khoanh nuôi mới: 1.982 ha, khoanh nuôi chuyển tiếp năm 2014: 190.780 ha).

Một số kết quả về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng năm 2014 - 2015 khu vực phía Bắc:

Diện tích rừng năm 2014 chia theo vùng (ha)

Năm Chỉ số Vùng 1 Vùng 2 Vùng 3 Vùng 4
2014 Din tích 5.204.791 3.827.586 747.033 4.017.096
  T l % 37,73 27,74 5,41 29,12
2013 Din tích 5.116.937 3.810.974 749.034 277.509
  T l % 36,67 27,31 5,37 30,65
Tăng, gim Din tích 87.854 16.612 (2.001) 260.413)
  T l % 1,06 0,43 0,05 (1,54)

Tình hình vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2015

2 copy4 copy

5 copy

Kết quả phát triển rừng 19 tỉnh khu vực phía Bắc năm 2015

1 copy

3 copy

Tỉnh Chuẩn bị cây giống (ngàn cây) Trồng rừng Trồng cây phân tán (ngàn cây)
Tổng cộng (ha) Đặc dung, Phòng Hộ Sản xuất Thay thế
Tổng cộng 305.148 121.657 8.412 110.446 2.799 27.161
Lai Châu      3.133 3.590 515 1.571 1.504 85
Điện Biên   434 320 89 26 924
Sơn La     11.226 5.273 3.318 1.949 5 789
Lào Cai     44.320 5.614 408 5.112 94 400
Yên Bái     28.000 12.680 50 12.050 580 3.731
Hà Giang     65.319 28.804 381 28.281 142 3.956
Tuyên Quang     25.565 14.492 317 14.064 111 571
Phú Thọ     19.000 7.634 332 7.302  
   

Chi cục Kiểm lâm vùng I - lịch sử hình thành và phát triển

 Chi cục Kiểm lâm vùng I (nguyên là Kiểm lâm vùng I) là đơn vị trực thuộc Cục Kiểm lâm, có chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng Cục Kiểm lâm quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản thuộc phạm vi quản lý của Cục theo phân câp, ủy quyền của Cục trưởng Cục kiểm lâm, Tổng cục Lâm nghiệp. Phạm vi hoạt động trên địa bàn19 tỉnh thành phố phía Bắc (trước đây là 24 tỉnh, thành phố). Toàn vùng có tổng diện tích tự nhiên 11,3 triệu ha. Diện tích rừng 5,08 triệu ha ( trong đó rừng tự nhiên là 3,76 triệu ha), độ che phủ của rừng 42.83%.(1).

           Quá trình xây dựng & phát triển của Chi cục kiểm lâm vùng I kể từ khi Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng được thành lập đến nay đã qua 26 năm. Có thể chia ra 2 giai đoạn:

           1.Giai đoạn 1987- 2002- Giai đoạn trực thuộc Bộ Lâm nghiệp-  Bộ Nông nghiệp & PTNT.

           Ngày18-2-1987 Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp ra Quyết định số 83/TCCB “Thành lập các Trung tâm dự báo phòng cháy chữa cháy rừng và phòng trừ sâu hại rừng trực thuộc Cục Kiểm lâm nhân dân”trong đó Trung tâm dự báo phòng cháy chữa cháy rừng(PCCCR) và phòng trừ sâu hại rừng (PTSHR)vùng gỗ mỏ & giấy được thành lập trên cơ sở Trạm nghiên cứu bảo vệ rừng Quảng Ninh trụ sở đóng tại Quảng Ninh.

           Các Trung tâm dự báo PCCRvà PTSHR có các nhiệm vụ chủ yếu là:

           Xây dựng phương án, kế hoạch PCCR và PTSHR cho toàn vùng, trước hết là những khu vực trọng điểm;

          Tổ chức dự báo cháy rừng và sâu bệnh hại rừng, thông báo kịp thời và định kỳ cho các đơn vị sản xuất kinh doanh Lâm nghiệp trong vùng;

          Tổ chức lực lượng nòng cốt và có phương tiện và kỹ thuật  tiên tiến để phối hợp với địa phương ứng cứu, dập tắt những vụ cháy rừng và diệt trừ sâu hại rừng;

          Tổ chức huấn luyện nghiệp vụ kỹ thuật cho lực lượng làm công tác PCCR và PTSHR trong vùng. Phối hợp với các Chi cục KLND, hạt KLND & lực lượng quản lý BVR trong vùng để tuyên truyền,vận động nhân dân PCCCR và PTSBHR;

          Các Trung tâm PCCR và PTSHR là đơn vị sự nghiệp cấp 3trực thuộc sự quản lý trực tiếp và toàn diện của Cục KLND. Các Trung tâm PCCR và PTSHR do 1Giám đốc phụ trách & 1 P.Giám đốc giúp việc, biên chế của Trung tâm nằm trong tổng số biên chế của lực lượng KLND.

          Ngày 14/5/1987 Bộ Lâm nghiệp ra Quyết định số 390/TCCB v/v bổ sung tên gọi tắt của các Trung tâm dự báo PCCR và PTSHR trực thuộc Cục KLND. Trong đó: Trung tâm dự báo phòng cháy chữa cháy rừng và phòng trừ sâu hại rừng vùng gỗ mỏ & giấy gọi tắt là Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số I.

          Xét thấy sự cần thiết & tầm quan trọng của công tác quản lý & chỉ đạo hoạt động kỹ thuật bảo vệ rừng, ngày 14/10/1987 Bộ trưởng  Bộ Lâm nghiệp lại ra Quyết  định số765/TC-CB bổ sung quyết định số 83/TC-CB - Quyết định: các Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số I là đơn vị sự nghiệp cấp 2 trực thuộc Bộ Lâm nghiệp; Giao ông Cục trưởng Cục kiểm lâm & Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ xây dựng nhiệm vụ, tổ chức, biên chế, phương thức hoạt động của Trung tâm trình Bộ duyệt.

         Sau khi có Quyết định trên các Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng có:

        Cơ cấu tổ chức gồm: Giám đốc; P.Giám đốc & 3 phòng chức năng: Phòng kỹ thuật; Phòng tổng hợp; Đội cơ động chữa cháy rừng;

         Chức năng nhiệm vụ: Như Quyết định số 83/TCCB Ngày18-2-1987 Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp.

         Kết quả hoạt động:

         Mười lăm năm là đơn vị sự nghiệp cấp2 trực thuộc Bộ Lâm nghiệp-Bộ Nông nghiệp & PTNT vừa xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, củng cố tổ chức, bộ máy, vừa hoạt động nghiệp vụ , Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số1 đã giúp Bộ trưởng quản lý tốt ngành lâm nghiệp trong lĩnh vực PCCCR & PTSBHR trên địa bàn các tỉnh phía Bắc; Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện phương pháp dự báo cháy rừng, dự báo sản xuất lâm nghiệp.

          Xây dựng cấp dự báo cháy rừng cho hầu hết các tỉnh, thành phố trong vùng như: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lào Cai, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Bắc Giang, Lạng Sơn.

          Xây dựng phương án phân vùng trọng điểm cháy rừng, sâu bệnh hại rừng cho toàn vùng và của các tỉnh thành phố trong vùng hoạt động như: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lào Cai, Phú Thọ, Hải Dương, Hải Phòng;

          Giúp các Chi cục kiểm lâm xây dựng dự án PCCCR cấp tỉnh.

          Quy hoạch hoạt động PCCCR, PTSBHR các tỉnh phía Bắc Việt Nam.

          Chủ động giúp các địa phương dự báo PCCCR & PTSBHR, chủ động đưa ra các biện pháp PCCCR, PTSBHR phù hợp với từng địa bàn;

          Giúp các tỉnh kịp thời dập tắt nhiều trận dịch SBHR & dập tắt hàng trăm vụ cháy rừng, góp phần giảm đáng kể thiệt hại do cháy rừng gây ra.

          Kịp thời cử các đoàn công tác đến các tỉnh kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, chỉ đạo công tác PCCCR, PTSBH.

          CBVC của Trung tâm đã biên soạn trên 40 loại tài liệu chuyên môn. Mỗi năm mở hàng chục lớp tập huấn nghiệp vụ quản lý bảo vệ rừng, hướng dẫn kỹ thuật PCCCR & SBHR cho kểm lâm các tỉnh trong vùng, đồng thời giúp các tỉnh mở các lớp tập huấn nghiệp vụ tại địa btaijcow sở khi có yêu cầu.

          Tạo dựng mối quan hệ công tác gắn bó giữa Cơ quan với lãnh đạo ngành Lâm nghiệp, Chi cục kiểm lâm và các chủ rừng ở các địa phương.

           Trong hoạt động nghiên cứu thực nghiệm:đã xây dựng được 8 mô hình thực nghiệm: Mô hình lâm nghiệp xã hội ; Mô hình xây dựng hệ thống đường băng cản lửa, hệ thống hồ chứa nước chữa cháy; Mô hình áp dụng biện pháp hạ cấp thực bì để hạn chế cháy rừng tại Quảng Ninh; Xây dựng mô hình PTSBHR bằng biện pháp trồng rừng hỗn giao; xây dựng các ô tiêu chuẩn, ô dạng bản, định kỳ theo dõi sâu bệnh hại rừng để làm công tác dự báo SBHR;  Xây dựng mô hình khuyến lâm về bảo vệ rừng; Mô hình dùng Ong mắt đỏ phòng trừ sâu róm hại thông trong vùng quản lý.

          Chủ trì thực hiện 6 đề tài cấp ngành 4 đề tài cấp cơ sở về bảo vệ phát triển rừng.

          Chi bộ cơ quan hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của 1 tổ chức cơ sở Đảng 5 năm liên tục là Chi bộ trong sạch vững mạnh ( 1998-2002).

          Đơn vị hoàn thành suất sắc chức năng nhiệm vụ.

          Có thể nói Trung tâm kỹ thuật BVR số I là điạ chỉ tin cậy về lĩnh vực PCCCR, PTSBHR của các địa phương, đơn vị sản xuất kinh doanh rừng trong vùng.

          2. Giai đoạn 2002- 2014: Giai đoạn trực thuộc Cục Kiểm lâm

          Thực hiện chủ trương tinh giản các đầu mối trực thuộc & phân cấp quản lý, ngày 28/02/2002 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT ra Quyết định số 566/QĐ-BNN-TCCB chuyển giao nguyên trạng cơ sở Viện Điều dưỡng Lâm nghiệp III (cũ) do trường Trung học Lâm nghiệp trung ương I quản lý cho Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số I.

          Ngày21/3/2002 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT ra Quyết định số 20/2002/QĐ-BNN-TCCB chuyển giao Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số I & Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số II về Cục Kiểm lâm quản lý.

           Ngày 22/8/2002 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT ra Quyết định 76/2002/QĐ-BNN-TCCB quy định chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của các Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số I và số II trực thuộc Cục Kiểm lâm.Ngoài chức năng nhiệm vụ trước đây thêm nhiệm vụ giúp Cục trưởng Cục Kiểm lâm hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công tác PCCCR và PTSBHR của các Chi cục Kiểm lâm và Vườn Quốc gia.

          Ngày 20 /4/2007 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT Ban hành quyết định số: 30/QĐ thành lập Cơ quan Kiểm lâm vùng I trực thuộc Cục Kiểm lâm trên cơ sở Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số I. Chức năng là cơ quan quản lý chuyên ngành về bảo vệ rừng và bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi  25 tỉnh thành phố miền Bắc Việt Nam;

         Ngoài các chức năng nhiệm vụ trước đây Cơ quan Kiểm lâm vùng 1 được Bộ trưởng giao thêm chức năng bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi vùng được phân công;  bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, quản lý động vật, thực vật hoang dã.

        Ngày 27 tháng 12 năm 2014  Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT Ban hành quyết định số: 5664/QĐ-BNN-TCCB  thành lập Chi cục Kiểm lâm vùng I trực thuộc Cục Kiểm lâm trên cơ sở Cơ quan Kiểm lâm vùng I.

          Biên chế: Tổng số 37 CBVC;

         Tổ chức: Chi cục trưởng; và các phó Chi cục trưởng giúp việc;

          Phòng Nghiệp vụ I; Phòng Nghiệp vụ II; Phòng Nghiệp vụ III; Đội cơ động & PCCCR

          Kết quả hoạt động: Thực hiện dự án “Tăng cường cơ sở vật chất  cho Kiểm lâm vùng I” Văn phòng làm việc, hệ thống nhà nghỉ học viên đã được đầu tư xây mới;

             Nhà rèn luyện thể lực với nhiều trang thiết bị tiên tiến; Bãi huấn luyện kỹ năng thực hành chữa cháy; Nhà thi đấu thể thao, Hội trường đủ tiện nghi...đủ khả năng tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyên ngành & hội thảo lớn.

            Rừng thực nghiệm & nghiên cứu khoa học: Diện tích 64 ha, được UBND tỉnh Quảng Ninh giao quyền sử dụng, Bộ Nông nghiệp đầu tư kinh phí cải tạo,  xây dựng hệ thống đường băng cản lửa & Chòi canh lửa kiên cố; Hồ chứa nước phục vụ PCCCR.

            Các phòng làm việc đều được trang bị  máy vi tính, nối mạng Internet. Các trang thiết bị phục vụ hoạt động chuyên môn được trang bị tương đối đồng bộ.

            Phương tiện, máy móc, thiết bị phục vụ công tác PCCCR và rèn luyện thẻ lực được tăng cường. Đội cơ động được giao quản lý sử dụng 19 máy bơm công suất lớn; 102 máy thổi khí; 26 máy cắt thực bì; 70 cưa xăng; 30 bình chữa cháy; 2 bộ đàm; 19 loa chỉ huy; 6 máy định vị JPS; 6 ống nhòm. Ngoài ra, còn có máy ảnh; Camera và một số công cụ hỗ trợ.

            Cán bộ viên chức trong cơ quan được quan tâm tạo điều kiện  nâng cao trình độ chuyên môn & sư phạm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hiện tại lực lượng lao động có trình độ đại học & trên đại học chiếm 80% , trong đó trên đại học chiếm xấp xỉ 10% tổng số CBVC.

           Chế độ ưu đãi nghề như: phụ cấp ngành, chế độ thâm niên công tác, các chế độ & quyền lợi của CBVC sớm được quan tâm giải quyết...tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức &thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị.

          Công tác dự báo, cảnh báo cháy rừng được duy trì có nề nếp theo tuần đến từng huyện thị xã cho tất cả các tỉnh, thành phố có rừng trong vùng quản lý ngày càng sát thực & có hiệu quả

          Đã xây dựng phương án phân vùng trọng điểm cháy rừng, phá rừng; phương án ứng trực & tham gia ứng cứu chữa cháy rừng ở các tỉnh trọng điểm trong vùng.

           Hàng năm, cơ quan cử  hàng chục lượt tổ công tác đến các tỉnh trọng điểm cháy rừng, tổ chức ứng trực PCCCR mùa khô hanh. Cùng với Kiểm lâm, quân & dân ở các địa phương kịp thời dập tắt hàng trăm vụ cháy rừng, đảm bảo sự bình yên cho những cánh rừng.

          Tiếp tục phối hợp với kiểm lâm tỉnh theo dõinắm tình hình dịch sâu bệnh hại rừng..., tư vấn cho chi cục bảo vệ thực vật và chủ rừng điều tra, phòng trừ sâu  bệnh trong địa bàn.

           Trước và trong mùa khô hanh cử các tổ công tác đi kiểm tra, hướng dẫn, kiểm tra công tác PCCCR. Sau kiểm tra đã kiến nghị, đề nghị với lãnh đạo địa phương và các cơ quan chức năng những việc cần làm để thực hiện tốt công tác PCCCR, PTSBHR.

            Mỗi năm đơn vị tổ chức hàng chục lớp tập huấn nghiệp vụ về quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học & bảo vệ động vật hoang dã. Kịp thời cử các đoàn công tác đến các tỉnh mở các lớp tập huấn nghiệp vụ khi có yêu cầu, tạo mối quan hệ công tác gắn bó giữa Cơ quan với các địa phương.

            Trong hoạt động tuyên truyền đã làm2 phim phóng sự: Hiểm hoạ cháy rừng;bảo vệ loài Gấu. Xây dựngtrang WEB: Kiemlamvung1.org.vn giúp các địa phương, cơ sở trao đổi thông tin, tuyên truyền, theo dõi dự báo và kiểm soát cháy rừng qua mạng Internet. Trong đó, dành riêng 1 trang tin chuyên dự báo, cảnh báo cháy rừng; Đăng tải các tài liệu văn bản quy phạm pháp luật về quản lý  bảo vệ rừng, các tài liệu tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ về công tác PCCCR, PTSBHR, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng ở cơ sở.

            Mô hình thực nghiệm tiếp tục được củng cố, áp dụng biện pháp hạ cấp thực bì để hạn chế cháy rừng; xây dựng mô hình trồng rừng hỗn giao, mô hình quản lý sâu bệnh hại rừng bằng biện pháptổng hợp.Đang tiến hành xây dựng dự án bảo vệ và phát triển rừng nghiên cứu thực nghiệm giai đoạn 2013-2020 trình Tổng cục Lâm nghiệp phê duyệt.

          Hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật :

          Đã thực hiện & tham gia thực hiện 03 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 02 đề tài nghiên cứu cấp cơ sở về các lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng. Đăng ký các đề tài nghiên cứu khoa học và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật công nghệ vào công tác  bảo vệ & phát triển rừng giai đoạn 2012-2020.

          Cán bộ viên chức cơ quan có lập trường tư tưởng vững vàng, có ý thức học tập, rèn luyện nâng cao nhận thức chính trị, xã hội, kinh tế, khoa học kỹ thuật, luôn rèn luyện phẩm chất đạo đức của người cán bộ viên chức.

 Văn phòng cơ quan  luôn xanh, sạch đẹp - là văn phòng cơ quan đẹp bên bờ vịnh Hạ Long.

          Cơ quan luôn làm tốt công tác bảo vệ trật tự trị an, an ninh quốc phòng.

          Thực hiện tốt công tác tài chính kế toán, quản lý tốt các nguồn vốn, thanh quyết toán hàng năm, thực hiện đầy đủ chế độ chính sách cho người lao động.

           Làm tốt công tác quản lý trang thiết bị, vật tư, xe máy, không lãng phí, gây thất thoát, sử dụng đúng mục đích, nhu cầu. Thực hiện phương châm “giữ tốt dùng bền” các thiết bị hiện có.

          Đảm bảo an toàn lao động tuyệt đối.

           Thành tích thi đua khen thưởng:

          Giai đoạn 2002-2012:Tập thể cơ quan được Bộ trưởng, UBND các tỉnh& BCH công đoàn ngành Nông nghiệp tặng 11 Bằng khen; 02 cờ thi đua ngành Nông nghiệp& PTNT; 1 Bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ; Chủ tịch nước tặng 1 Huân chương lao động hạng ba;

            77 lượt CBVC được công nhận là Chiến sỹ thi đua cơ sở, trong đó có 5 lượt CBVC được suy tôn là CSTĐ ngành Nông nghiệp & PTNT; 03cá nhân được nhận Bằng khen của Thủ tướng chính phủ; 01 cá nhân được tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba; nhiều đ/c được nhận Huy hiệu vì sự nhiệp phát triển Nông nghiệp & nông thôn.

            Chi Bộ 11 năm liền ( 2002-2012)được công nhận là chi bộ Đảng trong sạch vững mạnh.  Chi đoàn nhiều năm liên tục được công nhận là Chi đoàn vững mạnh

            Công đoàn nhiều năm được tặng bằng khen của Công đoàn ngành.

           Có được kết qủa  trên là do :

           CBVC Cơ quan đoàn kết, tích cực chủ động thực hiện & hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ được giao;

           Có mối quan hệ phối hợp tốt với các Chi cục kiểm lâm, Sở Nông nghiệp & PTNT, các vườn Quốc gia và các cơ quan hữu quan;

          Được sự quan tâm của lãnh đạo Bộ, Cục; CBCC các Cục, vụ, Viện chức năng hết lòng giúp đỡ.

          Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, nhân dân địa phương  tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ trong suốt quá trình xây dựng và phát triển.

          Những bài học kinh nghiệm:

          Một là: Lãnh đạo đơn vị luôn bám sát  nhiệm vụ Bộ Nông nghiệp & PTNT, Cục Kiểm lâm giao, tích cực, chủ động, sáng tạo thực  hiện nhiệm vụ.

          Hai  là: Xây dựng tập thể đoàn kết; phát huy dân chủ; Xây dựng đội ngũ cán bộ giỏi, quan tâm đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực công tác của CBVC.

          Ba là mở rộng mối quan hệ công tác, phối hợp với các Chi cục Kiểm lâm, các Sở Nông nghiệp & PTNT, các vườn Quốc gia, các cơ quan hữu quan; Tranh thủ sự chỉ dẫn của lãnh đạo Bộ, Cục, sự giúp đỡ của các Cục, Vụ, Viện chức năng, các ban ngành hữu quan ở Trung ương và địa phương.

           Phía trước còn nhiều khó khăn gian khổ, song tin rằng được sự quan tâm lãnh đạo của cấp trên Chi cục kiểm lâm vùng I sẽ có những bước phát triển mới để đạt được kết quả cao hơn nữa góp phần cùng với lực lượng thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn vùng và cả nước./.

 
 

Tuyên truyền bảo vệ và phát triển rừng

1.Vai trò tác dụng của rừng:

Tục ngữ dân gian có câu: ”Rừng vàng, biển bạc”.

 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã nói: “ Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý”.

Vâng! Quả đúng như vậy:

Rừng là cái nôi của sự sống, là mái nhà chung, là nguồn sống của muôn loài. Rừng là hệ sinh thái hoàn hảo, bao gồm thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ và tre nứa có độ tán che từ 10% trở lên.

 Mỗi cây rừng là 1 nhà máy tổng hợp chất hữu cơ từ các chất khoáng, nước có trong đất và khí Cacbonic trong khí quyển dưới tác động của ánh sáng mặt trời. Cây rừng có khả năng tái sinh, vì vậy rừng có khả năng tự tái tạo.

Tài nguyên rừng là kho báu lâm sản, thổ sản; là nguồn nguyên liệu, dược liệu không dễ gì thay thế được.

Nhà cửa, các công trình xây dựng, đồ dùng gia dụng, nội thất trong mỗi công trình, nguyên liệu để làm giấy, sơn, vec-ni, dược liệu… mà con người đang sử dụng đều từ lâm sản.

Rừng đáng quý biết bao! Những giá trị về sinh khối do sinh vật rừng mang lại mà chúng ta quen gọi là lâm sản như vừa kể chỉ là phần nhỏ trong giá trị của rừng.

  Người ta đã chứng minh được rằng, trong giá trị to lớn của rừng, nếu như giá trị lâm thổ sản là 1 phần thì giá trị môi trường do rừng đem lại có giá trị gấp trăm lần hơn thế. Thật vậy:

Rừng là nhân tố góp phần hình thành đất, có tác dụng giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu, thuỷ văn. Rừng là nơi khép kín các chu trình vật chất. Rừng có vai trò chủ đạo trong việc giữ cân bằng sinh thái trên trái trái đất.

Hệ thực vật rừng là nhà máy sản xuất ôxy tự nhiên khổng lồ từ khí thải CO2 do hoạt động của con người và sinh vật thải ra. Mỗi năm, tính trung bình, 1ha rừng sản xuất ra khoảng 16 tấn ôxy cho bầu khí quyển trái đất.

Có thể nói: ” Rừng là 1 bộ phận không thể thiếu trên trái đất. Rừng duy trì sự sống của chúng ta.

*

*  *

Rừng là như vậy, nhưng nhiều người chưa hiểu hết vai trò và tác dụng lớn lao  của rừng, thiếu ý thức bảo vệ rừng.

Việc khai thác lâm sản không tuân thủ quy trình, quy phạm quản lý BVR. Nạn chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép, đặc biệt là việc đốt phá rừng làm rẫy, gây cháy rừng, cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng thiếu cơ sở khoa học, vô tình hay cố ý  là nguyên nhân đẫn đến mất rừng, gây hậu quả khôn lường.

*

*  *

Thực trạng tài nguyên rừng suy giảm thế nào?

Theo thông tin những vấn đề lý luận (số 12 - 6/2011) báo điện tử Đảng cộng sản Việt nam: “Mỗi năm trái đất mất đi 5% diện tích rừng nguyên sinh và rừng nhiệt đới. Do đó, làm cho 1/3 số loài động vật bị dồn đuổi, co cụm lại trong các vùng mà diện tích chỉ bằng 1,4% diện tích lục địa, nên chúng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.”

Trên thế giới, những năm gần đây liên tiếp xảy ra nhiều vụ cháy rừng lớn. Hàng trăm ngàn ha rừng đã bị cháy ở Oxtraylia, ở Mỹ,  ở Nga và gần chúng ta nhất là cháy rừng ở Philipin, Indonexia. Thiệt hại do cháy rừng ở những nước này lên tới nhiều tỷ đôla, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sinh hoạt của loài người.

Cháy rừng ở Nga cuối mùa hè năm 2010  làm thiệt mạng 62 người, thiêu hủy 3.200 ngôi nhà thuộc 199 điểm dân cư và gây thiệt hại vật chất lên tới hơn 12 tỷ rúp (khoảng 400 triệu USD). Thủ tướng Nga-PuTin đã phải đích thân chỉ huy chữa cháy rừng.

Ở Việt nam, vụ cháy rừng tháng 4 năm 2002 ở rừng tràm Uminh đã đi vào lịch sử với 4000ha rừng tràm bị cháy. Gần đây nhất, mùa khô 2009 - 2010 đã xảy ra 2 vụ cháy rừng lớn: Vụ cháy rừng ở Vườn quốc gia Hoàng Liên kéo dài 10 ngày cuối tháng 2 năm 2010- đúng vào dịp tết nguyên đán Canh dần đã thiêu trụi trên 700 ha rừng;

Vụ cháy rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa - Sơn La vào đầu tháng 3 năm 2010 cũng thiêu trụi trên 300 ha rừng tự nhiên quý hiếm. Trong 2 vụ cháy rừng lớn  đó, Ban chỉ đạo (BCĐ) những vấn đề cấp bách về bảo vệ rừng &phòng cháy chữa cháy rừng( PCCCR) phối hợp với Uỷ ban cứu hộ cứu nạn quốc gia đã phải huy động nhiều lực lượng phối hợp, bao gồm lực lượng tại chỗ, lực lượng xung kích tăng cường của các địa phương, lực lượng bộ đội của Quân khu 2… tham gia chữa cháy trong nhiều ngày mới khống chế và dập tắt được đám cháy.

Cháy rừng  không chỉ thiêu đốt tài sản của người làm nghề rừng mà còn thiêu đốt muôn loài đe doạ sự sống của chúng ta.

Tác hại của cháy rừng ra sao?  Có thể nói nôm na bằng thơ cho dễ nhớ như sau:              

                                    “Cháy rừng như thể cháy nhà

Cháy rừng như thể cháy da thịt mình

Cháy rừng huỷ hoại môi sinh

Cạn kiệt nguồn nước, khổ mình, khổ ta

Còn đâu mưa thuận gió hoà

Lũ quét, lũ ống, cửa nhà lìa tan

 Đất rừng sau cháy điêu tàn

Khi mưa đất lở, nước tràn ngập trôi

Còn đâu đất tốt trên đồi?

Cỏ tranh lau lách được thời đua chen

Cháy rừng đâu chỉ mất tiền?

Mất luôn sinh cảnh, thủng tầng điện ly

Hiệu ứng nhà kính thần kỳ

Băng tan tuyết chảy, tức thì nước dâng

Cháy rừng muông thú bâng khuâng

Không nơi ẩn nấp hết nguồn thức ăn”*

*

*  *

       Mất rừng, thiên nhiên giận dữ thế nào? Người đời đã tổng kết:

“Ăn của rừng rưng rưng nước mắt,

Đốt phá rừng trời ắt phạt cho.

Phạt bằng mưa lũ, hạn khô,

Phạt cho hết nước - khó khăn cấy cầy.

 Vắng chim, vắng thú vui vầy,

Hết cây gỗ tốt dựng xây cửa nhà.

Phạt bằng rừng mãi lùi xa,

  Núi thành sa mạc trơ ra, sói mòn.

Phạt đời người phá, đời con,

Phạt đến đời cháu nếu còn phá nghen!”*

*

*   *

Gây trồng và bảo vệ rừng và lợi ích:

“Cháy rừng như thể cháy nhà,

Cháy rừng như thể cháy da thịt mình.

Trồng rừng  kiến tạo môi sinh,

Nhưng khó bắt trước mô hình tự nhiên.

 Khoanh núi, bảo vệ, ưu - phiền,

 Để tự tái tạo, lâu niên mới thành.

  Trồng rừng …những loại mọc nhanh,

Là bóc lột đất, nếu: thâm canh không làm.

Vui thay, Nhà nước đã làm:

Giao rừng giao đất cho làng cho dân,

Giao cho tổ chức, cá nhân

 Hỗ trợ  kỹ thuật, cây, phân bón rừng.

*

*  *

Ăn của rừng rưng rưng nước mắt,

Kiến tạo rừng trời ắt giúp ta.

Giúp cho mưa thuận gió hoà,

Rừng về, bướm lượn chim ca vui vầy.

Trồng rừng cho gỗ dựng xây,

 Cho nguyên dược liệu, cho đầy kho lương.

 Giữ rừng lúa tốt trên nương,

Cho dòng suối chảy vấn vương tình người.

   Rừng xanh cây cối tốt tươi,

Môi trường trong sạch giúp người giúp ta.”*

   Nguyên nhân nào dẫn đến cháy rừng?

Kết quả nghiên cứu cho thấy: sự cháy chỉ xuất hiện khi có sự kết hợp đồng thời của 3 yếu tố đó là: nguồn vật liệu cháy có độ ẩm dưới 15%, đủ O2 và nguồn nhiệt đủ lớn.

Ở trong rừng, nguồn vật liệu cháy và O2 luôn sẵn có. Khi nắng nóng hoặc thời tiết khô hanh kéo dài, các lọại cỏ, cây bụi khô nỏ, tầng thảm mục trên mặt đất rừng gồm: lớp lá rụng, cành khô, thân và cành cây đổ gãy hoặc do khai thác gỗ để lại cùng với lớp mùn do vật rơi rụng của thực vật phân huỷ tạo nên, cũng khô nỏ, độ ẩm nhỏ, rất dễ bén lửa. Vì vậy, nếu có lửa trong rừng khi trời nắng nóng, hoặc thời tiết khô hanh rất dễ xảy ra cháy rừng.

Ở nước ta, nguyên nhân gây cháy rừng chủ yếu do con người sử dụng lửa bất cẩn gây ra.

Các nguyên nhân chính gây cháy rừng gồm: đốt nương làm rẫy để lửa cháy lan; sử dụng lửa bất cẩn khi bắt ong; đốt cỏ khô để cỏ non mọc phục vụ lợi ích chăn nuôi của 1số người chăn nuôi đại gia súc; trẻ em chăn trâu đốt lửa sưởi trong rừng; thả đèn trời dịp lễ tết, lửa rơi xuống gây cháy ...thậm chí chỉ vứt 1 mẩu thuốc lá khi hút xong vào rừng lúc thời tiết hanh khô... cũng gây cháy rừng.

Nguyên tắc và phương châm phòng cháy và chữa cháy rừng là gì?

Để phòng cháy và chữa cháy rừng hiệu quả phải quán triệt nguyên tắc: ”Phòng là chính, chữa cháy rừng phải khẩn trương và triệt để”. “Phương châm hành động là 4 tại chỗ”. Đó là: “lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ”.

Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng của Ủy ban nhân dân cấp xã như thế nào?

Điều 6-Nghị định 23/2006/NĐ – CP ngày 3/3/2006 đã chỉ rõ:

Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng của Ủy ban nhân dân cấp xã  gồm 11 nhiệm vụ:

1. Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trong phạm vi cấp xã.

2. Lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của địa phương, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đó.

3. Thực hiện việc phân định ranh giới các loại rừng trên bản đồ và trên thực địa theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

4. Thực hiện việc thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trong phạm vi địa phương và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện.

5. Thực hiện việc bàn giao rừng tại thực địa cho các chủ rừng và xác nhận ranh giới rừng của các chủ rừng trên thực địa.

Xây dựng phương án giao rừng, cho thuê rừng trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và có kế hoạch trình Ủy ban nhân dân cấp huyện đưa vào sử dụng đối với những diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê.

6. Lập và quản lý hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng và đất để trồng rừng; các hợp đồng cho thuê rừng, khoán rừng giữa tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân trong xã.

7. Hướng dẫn nhân dân thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; làm nương rẫy, định canh, thâm canh, luân canh, chăn thả gia súc theo quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt.

8. Chỉ đạo các thôn, bản và đơn vị tương đương xây dựng và thực hiện quy ước quản lý, bảo vệ, phát triển rừng; tổ chức và huy động lực lượng quần chúng trên địa bàn phối hợp với kiểm lâm, lực lượng công an, quân đội trên địa bàn phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hành vi xâm hại rừng.

9. Kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng theo thẩm quyền.

10. Tổ chức thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

11. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc để xảy ra phá rừng trái phép, cháy rừng, mất rừng, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích ở địa phương.

Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác PCCCR thế nào?

Điều 35-Nghị định 09/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 1  năm 2006 của Chính phủ Nước cộng hoà XHCNViệt Nam về PCCCR đã chỉ rõ: 

Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp theo thẩm quyền và phạm vi quản lý của mình chịu trách nhiệm về phòng cháy và chữa cháy rừng và có trách nhiệm cụ thể sau:

1. Ban hành các quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng tại địa phương.

2. Thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng.

3. Chỉ đạo, kiểm tra và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy rừng; xử lý hành chính các hành vi vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng theo thẩm quyền.

4. Hướng dẫn, chỉ đạo tuyên truyền, giáo dục pháp luật, kiến thức về phòng cháy và chữa cháy rừng cho nhân dân, xây dựng phong trào quần chúng tham gia hoạt động phòng cháy và chữa cháy rừng.

5. Đầu tư ngân sách cho hoạt động phòng cháy và chữa cháy rừng; trang bị phương tiện phòng cháy và chữa cháy rừng.

6. Chỉ đạo việc xây dựng và thực tập phương án phòng cháy và chữa cháy rừng cần huy động nhiều lực lượng, phương tiện tham gia.

7. Chỉ đạo tổ chức chữa cháy rừng, điều tra nguyên nhân gây cháy rừng và khắc phục hậu quả vụ cháy rừng.

8. Quy hoạch địa điểm, đề xuất cấp đất và xây dựng doanh trại cho lực lượng phòng cháy và chữa cháy rừng.

9. Thống kê, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tình hình phòng cháy và chữa cháy rừng./.

 
 

Bí quyết dùng lửa dập lửa trong chữa cháy đồng cỏ và chữa cháy rừng

Có lẽ bạn đã từng được nghe nóiphương pháp “dùng lửa dập lửa” trong chữa cháy đồng cỏ hoặc chữa cháy rừng. Kỹ thuật thực hiện là: dùng dao quắm, máy cắt cỏ, cắt bỏ cây bụi, cỏ, thậm chí máy gạt…tạo 1 đường băng trắng bao vây trước mũi tiến của đám cháy( hoặc lợi dụng đường mòn, đường giao thông ở phía trước mũi tiến của đám cháy) làm “băng tựa” rồi chờ thời cơ châm lửa đốt vật liệu cháy từ mép băng tựa tạo đám cháy mới có mũi tiến ngược với mũi tiến của đám cháy rừng đang có xu hướng tiến nhanh về phía băng tựa đó. Ngọn lửa mới đi về phía bể lửa đang cuộn dâng, cướp đoạt "vật liệu cháy" của đám cháy lớn. Hai bức tường lửa gặp nhau, đám cháy lập tức tắt ngay, tựa như nuốt chửng nhau vậy.

Nếu cháy trảng cỏ trên thảo nguyên vào mùa cỏ khô thì phương pháp trên có thể nói là phương pháp tốt nhất,  hiệu quả nhất, để ngăn chặn kịp thời và dập tắt đám cháy một cách nhanh nhất.

Đây cũng là cách thoát hiểm của người chữa cháy rừng khi bị giặc lửa đuổi theo uy hiếp trong tình huống họ không kịp chạy thoát.

Dưới đây là đoạn trích trong cuốn tiểu thuyết “Đồng cỏ” của nhà văn Kupe, mô tả cảnh ông già bẫy muông thú cứu những người khách du lịch đang mắc nghẽn trong đám cháy trên đồng cỏ châu Mỹ khiến ta suy nghĩ:

"Đột nhiên ông già tỏ thái độ cương quyết: “Đến giờ hành động rồi” - Ông nói.

Ông hành động quá muộn rồi, ông già đáng thương ạ! - Mitliton thốt lên. Lửa chỉ còn cách chúng ta một phần tư dặm thôi, và gió đang táp những ngọn lửa đó về phía ta với một vận tốc kinh người.

À, ra thế! Lửa! Ta không thể sợ lửa. Nào các cháu! Xắn tay áo lên, cắt ngay cái đám cỏ khô này đi, để làm trơ ra một khoảng đất trống.

Trong một khoảng thời gian rất ngắn, họ đã cắt trụi được một khoảng đất đường kính 6 mét. Ông già dẫn các cô gái đến một góc của khoảng đất trống không lớn lắm đó và bảo họ lấy chăn che những quần áo dễ cháy. Sau khi đã phòng bị xong xuôi rồi, ông chạy đến góc bãi trống đối diện, nơi mà ngọn lửa man rợ, cao ngất đang điên cuồng tấn công họ, ông lấy một nắm cỏ khô nhất đặt lên giá súng rồi đốt. Nắm cỏ khô dễ cháy lập tức bùng lên. Ông già ném nắm cỏ này vào trong bụi cây cao, rồi trở về giữa bãi trống, kiên tâm chờ đợi kết quả hành động của mình. Ngọn lửa do ông già ném tới đã tham lam ngấu nghiến hết những cây khô, chỉ trong chớp mắt nó đã lan sang đám cỏ…

Lửa cháy càng ngày càng to, bắt đầu lan về ba phía. Nhưng ở phía thứ tư thì nó bị mảnh đất trống cản lại. Lửa cháy càng dữ, chỗ đất trống xuất hiện ở phía trước cũng càng được mở rộng... Sau mấy phút đồng hồ, ngọn lửa ở tất cả mọi phía đều lùi đi, chỉ còn lại những đám khói dày đặc bao vây mọi người, nhưng họ đã thoát khỏi nguy hiểm vì ngọn lửa đã điên cuồng tiến lên phía trước...

Tuy nhiên, phương pháp “dùng lửa dập tắt những đám cháy” không đơn giản như ta tưởng. Chỉ những người rất có kinh nghiệm mới có thể dùng phương pháp đốt lửa đón đầu để dập tắt lửa, nếu không càng đem lại những tai họa lớn hơn.”

Nếu bạn suy nghĩ, bạn sẽ thấy rõ vì sao làm việc đó cần phải có nhiều kinh nghiệm. Câu hỏi là “Tại sao ngọn lửa do ông già đốt lên lại có thể cháy đi đón lửa mà không cháy theo phía ngược lại trong khi gió từ phía đám cháy đang thổi tới, và đem bể lửa về phía những người lữ khách? Tưởng chừng như ngọn lửa do ông già đốt lên sẽ không đi đón bể lửa mà sẽ cháy lùi về phía sau theo đồng cỏ… và các hành khách không tài nào tránh khỏi bị thiêu chết.

Vậy, ông già bẫy muông thú có bí quyết gì?

Bí quyết là ở chỗ: ông hiểu được quy luật vật lý đơn giản là: tuy gió từ phía đồng cỏ đang cháy thổi tới đẩy đám cháy về phía những người lữ khách, nhưng ở phía trước, gần sát mặt đất, ngay gần đám cháy lớn,  có một dòng không khí chuyển động ngược trở lại đám cháy do hiện tượng đối lưu.

Thực tế chứng minh khi có cháy lớn không khí ở phía trên biển lửa bị đốt nóng thì nhẹ đi và bị đẩy lên cao, không khí ở tất cả mọi phía (nơi chưa bắt cháy) nặng hơn tràn vào thay thế.

Do đó, ở cạnh biên giới của đám  cháy lớn, nhất định có dòng không khí hút về phía đám cháy ấy. Vì thế, phải bắt tay đốt lửa để đón lửa, khi đám cháy lan gần đến nỗi đã cảm thấy có dòng không khí hút đó.

Đây cũng là lý do tại sao ông già bẫy muông thú không vội vàng đốt lửa mà bình tĩnh chờ thời cơ thích hợp. Nếu luồng không khí đó chưa xuất hiện mà đã sớm đốt cỏ thì lửa sẽ cháy lan theo phương ngược lại, khiến mọi người ở vào một tình thế vô cùng nguy hiểm. Nhưng cũng không được hành động quá chậm, bởi vì lửa sẽ xô tới quá gần.

Hiện nay, nhờ có máy thổi gió chúng ta tạo ra gió, vì vậy có thể châm lửa trên băng tựa sớm hơn mà vẫn đẩy được đám cháy mới đốt về phía đám cháy lớn khi tốc độ gió ngoài trời không lớn, nhưng cũng phải hết sức thận trọng để đảm bảo an toàn cho người đi chữa cháy./.

                                                                                              L.V.Đ

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  18
Hôm nay:  486
Tháng hiện tại:  6693
Tổng lượt truy cập: 227475
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:0203.3846768 - Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn