HOẠT ĐỘNG

Giải pháp bảo tồn rừng nghiến trên hệ sinh thái rừng núi đá vôi tại các khu rừng đặc dụng

          Việt nam hiện có trên 1 triệu ha núi đá vôi, chiếm khoảng 7% diện tích đất Lâm nghiệp, trong đó có khoảng 0,6 triệu ha diện tích có rừng (chiếm 55%). Hầu hết diện tích rừng trên núi đá vôi được quy hoạch là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng trên núi đá vôi phân bố tập trung nhất ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.

Ảnh rừng nghiến trên núi đá vôi tại Khu BTTN Kim Hỷ- Bắc Kạn

          Hiện nay cả nước có 20 khu rừng đặc dụng là rừng núi đá vôi, với diện tích khoảng 0,32 triệu ha, chiếm 17,5% diện tích rừng đặc dụng toàn quốc. Do quá trình phong hóa diễn rư rất chậm và lâu dài, núi đá vôi tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và huyền bí gắn với bản sắc văn hóa của dân tộc chưa được khám phá hết đang thu hút hàng vạn khách tham quan và các nhà khoa học, là điểm hẹn của nhiều du khách về du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm và nghiên cứu khoa học.

          Rừng trên núi đá vôi thuộc kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh có tài nguyên thực vật và động vật khá đặc sắc, khác với nhiều kiểu rừng nhiệt đới trên núi đất của các khu rừng đặc dụng Việt Nam như: Hệ thực vật phong phú đa dạng về loài, nhiều loài có giá trị kinh tế, khoa học được ghi trong sách Đỏ Việt Nam như Nghiến, Hoàng Đàn, Mun sọc, Pơ mu, Kim giao,…Hệ động vật tương đối đa dạng, trong đó có hai bộ có tính đa dạng cao nhất là bộ Dơi và bộ Linh trưởng. Các loài tiêu biểu là Voọc mũi hếch, Voọc đầu trắng, Hươu xạ,…

          Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đã và đang đóng vai trò vô cùng quan trọng trong kinh tế, môi trường và nghiên cứu khoa học của nước ta. Tài nguyên rừng của các khu rừng đặc dụng trên núi đá vôi vốn rất phong phú và đa dạng nhưng ngày càng bị xâm hại, diện tích rừng bị thu hẹp, nhiều loài động, thực vật quý suy giảm về số lượng. Thảm thực vật rừng trên núi đá vôi bị suy giảm sẽ dẫn đến sự thay đổi tiểu khí hậu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của cộng đồng các dân tộc sống trong và quanh vùng núi đá.

          Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi là một hệ sinh thái đặc biệt rất nhạy cảm, có lịch sử địa chất lâu dài, được hình thành trên nền đất đặc biệt là đá vôi, điều kiện thuỷ văn thường là khô hạn, vì vậy nếu bị phá huỷ thì rất khó có thể khôi phục. Ở các vùng núi đá vôi có khu hệ sinh vật đặc thù, mang tính chỉ thị, đó là những nhóm loài ưa sống trong điều kiện khắc nghiệt.

          Sự tái sinh các loài cây trên núi đá vôi rất khó và sự sinh trưởng của chúng rất chậm chạp, loài Nghiến trên núi đá vôi mất hàng nghìn năm sau có được cây nghiến cổ thụ, việc khôi phục loài này là hết sức khó khăn. Các năm qua, tại một số khu rừng đặc dụng vẫn còn tình trạng khai thác trái phép nghiến, chủ yếu là khai thác nghiến dưới dạng thớt mang tiêu thụ như tại Vườn quốc gia Ba Bể, Khu BTTN Kim Hỷ (Bắc Kạn); Khu BTTN Phong Quang (Hà Giang); Khu BTTN Hữu Liên (Lạng Sơn); Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (Thái Nguyên),...

Ảnh rừng nghiến trên núi đá vôi tại Khu BTTN Phong Quang – Hà Giang

          Theo Quyết định 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020, với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng trên đơn vị diện tích. Để bảo tồn rừng Nghiến trên núi đá vôi tại các khu rừng đặc dụng cần thiết tiến hành một số giải pháp chính sau đây:

          - Tổ chức mạng lưới bảo vệ rừng trong nhân dân tại các xã có diện tích rừng nghiến, bảo đảm cho những nơi có nguy cơ bị khai thác trái phép cần có người bảo vệ chuyên trách hợp lý, có chế độ đãi ngộ phù hợp. Điển hình tại Khu BTTN Văn Bàn – Hoàng Liên, giao khoán bảo vệ từng cây nghiến cổ thụ cho người dân địa phương, có chế độ đãi ngộ đối với các hộ được nhận bảo vệ cây nghiến.

          - Tăng cường đầu tư các chương trình, dự án nhằm tạo việc làm cho người dân sống trong, gần các khu rừng nghiến, giảm áp lực cho công tác quản lý bảo vệ rừng.

          - Tăng cường lực lượng, phương tiện, trang thiết bị cho các Ban quản lý rừng đặc dụng có rừng nghiến nhằm ngăn chặn hiệu quả tình trạng khai thác, vận chuyển trái phép nghiến dạng thớt trên địa bàn

          - Khoanh nuôi tái sinh tự nhiên loài Nghiến trên núi đá vôi, đồng thời giám sát, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, có thể khoán bảo vệ cho người cộng đồng dân địa phương (mô hình quản lý rừng cộng đồng).

          - Cần nâng cao đời sống cho người dân, giảm áp lực vào rừng, giảm tỷ lệ các hộ nghèo bằng các biện pháp cụ thể như: Tăng cường hỗ trợ vốn, cho vay để người dân có kế hoạch phát triển kinh tế lâu dài; tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ giống, kỹ thuật tới tận người dân để họ sử dụng tiền vốn vay có hiệu quả; tổ chức chuyển giao kỹ thuật cho người dân sống trong rừng, gần rừng; hỗ trợ cây giống đa mục đích cho người dân để họ trồng quanh khu gia đình nhằm mục đích lấy củi, lấy gỗ,... để phục vụ cuộc sống, giảm áp lực vào rừng.

          - Xử lý nghiêm các vụ vi phạm về khai thác, vận chuyển trái phép nghiến dạng thớt, đặc biệt xử lý các đầu nậu chuyên thu mua nghiến dưới dạng thớt.

          - Hoàn thiện cơ chế, chính sách cho các Ban quản lý rừng đặc dụng, tạo điều kiện về kinh phí, nhân lực để các Ban quản lý của các khu rừng hoạt động hiểu quả. Xây dựng ch­ương trình giám sát loài quý hiếm, đặc biệt là loài nghiến có giá trị bảo tồn nguồn gen và giá trị kinh tế cao.

Đặng Anh Quỳnh - Chi cục Kiểm lâm vùng I

 
 

Lợi ích kép từ trồng rừng gỗ lớn

          Hiệu quả kinh tế từ mô hình trồng rừng gỗ lớn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao cho các hộ gia đình, tạo công ăn việc làm, giúp xóa đói, giảm nghèo cho bà con các dân tộc miền núi,mà còn thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp phát triển bền vững; đồng thời, góp phần bảo vệ môi trường, sinh thái, chống biến đổi khí hậu toàn cầu; đặc biệt, khi mùa mưa đến sẽ làm giảm xói mòn, rửa trôi đất, phòng chống lũ lụt, hạn hán. Tuy nhiên, mô hình này vẫn chưa phát triển rộng rãi tương xứng với tiềm năng sẵn có tại các địa phương.

         Theo đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp, đến năm 2020, diện tích vùng trồng rừng gỗ lớn trên cả nước vào khoảng 1,2 triệu ha, để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ. Để đạt được mục tiêu này, việc hỗ trợ vốn vay cho người trồng rừng, cũng như đưa giống mới, có năng suất cao vào trồng rừng, áp dụng khoa học kỹ thuật từ khâu làm đất, xác định mật độ trồng, bón phân, chăm sóc rừng để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả rừng trồng cho người dân cần được tiến hành đồng bộ.

Mô hình trồng rừng gỗ lớn của C.Ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế, Bắc Giang

         Từ khi triển khai dự án “Xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh gỗ lớn (Keo lai, Keo tai tượng) và chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn” thuộc dự án Khuyến nông Trung ương do Vụ Phát triển rừng chủ trì, được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2014 - 2016, tỉnh đã trồng được 120 ha rừng thâm canh gỗ lớn, với 70 hộ gia đình tham gia; đồng thời, đã thực hiện chuyển hóa được 55 ha rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn, với 38 hộ gia đình tham gia; cả hai mô hình trên đều được thực hiện trên địa bàn các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và huyện Yên Thế.

         Thời điểm khi bắt đầu triển khai thực hiện dự án rất nhiều người dân không khỏi nghi ngờ về tính khả thi của dự án, bởi theo quan điểm của các chủ rừng, phát triển gỗ nhỏ (chu kỳ từ 5 - 7 năm), có nguồn thu nhanh hơn, sẽ sớm quay vòng đầu tư tiếp, hơn nữa thu hoạch từ rừng chồi cũng được người trồng rừng cho là hiệu quả hơn so với phát triển rừng gỗ lớn. Tuy nhiên, thông qua 09 lớp tập huấn và 03 lớp hội thảo đầu bờ, nhờ tích cực tuyên truyền vận động, cùng với sự hỗ trợ ban đầu của dự án về cây giống, phân bón, kỹ thuật chăm sóc,... Người dân đã dần hiểu và thấy được lợi ích, nên đã đồng thuận tích cực tham gia dự án.

         Sau 03 năm thực hiện dự án, cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, trữ lượng rừng, lượng tăng trưởng bình quân của rừng sau chuyển hóa tăng cao. Rừng trồng mô hình thâm canh gỗ lớn chiều cao vút ngọn bình quân đạt 5,6 m, đường kính gốc bình quân đạt 6,6 cm (rừng trồng thông thường, cùng loài cây và trong cùng điều kiện lập địa là 5,4 cm).Đối với mô hình chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn sau khi có sự điều chỉnh về mật cây trồng xuống còn 900 cây/ha, tạo không gian dinh dưỡng, đồng thời có tác động bón phân, nên đã có sự khác biệt tăng trưởng về chiều cao và đường kính, trữ lượng gỗ bình quân đạt 135,36 m3/ha (rừng trồng không chuyển hóa chỉ đạt 117,8 m3/ha cùng loài cây và trong cùng điều kiện lập địa).

         Tới thăm mô hình trồng rừng gỗ lớn của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Điều, tại Bản Soan, xã Xuân Lương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, sau khi dẫn chúng tôi thăm mô hình trồng rừng gỗ lớn của gia đình, ông bày tỏ: “Tháng 3 năm 2015, gia đình tôi tham gia dự án trồng rừng thâm canh gỗ lớn, với diện tích 10 ha, loài cây trồng là Keo tai tượng, được dự án Khuyến nông Trung ương hỗ trợ về giống cây trồng, phân bón NPK, kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng theo từng giai đoạn, hiện nay rừng đang sinh trưởng rất tốt, chiều cao vút ngọn của cây trung bình khoảng 7,0 m, đường kính gốc bình quân đạt 6,8 cm, gia đình rất phấn khởi với mô hình này. Tôi thường xuyên tuyên tuyền tới các chủ rừng tham gia trồng rừng gỗ lớn, cũng như chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn, không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao, mà còn góp phần làm giảm xói mòn, rửa trôi đất, phòng chống lũ lụt, hạn hán tại địa phương”.

         Theo tính toán của các chuyên gia về lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp, với 01 ha rừng trồng loài Keo, sau khoảng 06 năm trồng rồi khai thác sẽ cho khoảng 90 m3 gỗ tròn. Ngược lại, nếu không khai thác gỗ non, để lại chăm sóc thêm 5 - 6 năm nữa, trở thành rừng gỗ lớn mới khai thác, khi đó trữ lượng gỗ sẽ tăng gấp đôi, giá bán cũng cao gấp 2 - 3 lần, tùy kích thước gỗ khi khai thác. Cùng với đó, người trồng rừng gỗ nhỏ phải 02 lần đầu tư, nhằm tái trồng rừng lứa thứ 02, với chi phí trung bình khoảng 60 triệu đồng/ha, thì rừng gỗ lớn chỉ phải đầu tư 01 lần, với tổng chi phí trung bình khoảng 40 triệu đồng/ha, chu kỳ trồng rừng gỗ lớn tuy gấp đôi, nhưng hiệu quả kinh tế lại cao gấp 2 - 3 lần rừng gỗ nhỏ.

         Thực tiễn cho thấy lợi ích kinh tế và môi trường của rừng gỗ lớn cao, nhưng hiện nay đa số các chủ rừng lại lựa chọn mô hình trồng rừng gỗ nhỏ truyền thống. Nguyên nhân, do đa số người trồng rừng có diện tích nhỏ, kinh tế phần lớn có thu nhập thấp, nên không có điều kiện tài chính để theo chu kỳ sau 10 - 14 năm trồng mới khai thác cho gỗ lớn; bởi vậy, người dân vẫn chấp nhận trồng rừng gỗ nhỏ để trang trải cuộc sống và quay vòng vốn. Mặt khác, trồng rừng gỗ lớn còn gặp rủi ro do gió, bão làm gãy đổ cây rừng,... Trong khi chúng ta chưa có bảo hiểm rừng trồng, Nhà nước cũng chưa có chính sách hỗ trợ tín dụng cho trồng rừng gỗ lớn.

         Cùng với đó, hầu hết người trồng rừng phải đối mặt với khó khăn trong việc bảo vệ cây trồng, nhất là khi cây gỗ đã đạt đường kính để khai thác, kẻ trộm thường chọn cây lớn để chặt hạ, bỏ lại những cây nhỏ; vì vậy, để bảo vệ lợi ích của mình, người trồng rừng khai thác cây khi đáp ứng được yêu cầu băm dăm hoặc làm bột giấy.

Lực lượng Kiểm lâm Bắc Giang kiểm tra mô hình trồng rừng gỗ lớn tại xã Phong Minh, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

         Ông Nguyễn Quốc Dự, Phó Chi cục trưởng - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Giang cho biết: “Trồng rừng gỗ lớn đang là xu hướng trên thế giới và cũng là giải pháp quan trọng để thay đổi thực trạng kinh doanh lâm nghiệp hiện nay. Để phát triển mô hình trồng rừng gỗ lớn có lợi ích kép này, Chi cục Kiểm lâm sẽ chỉ đạo các đơn vị cơ sở tiếp tục tuyên truyền về hiệu quả kinh tế, môi trường, cũng như hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa từ rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn;đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp, hộ gia đình liên kết đầu tư kinh phí trồng rừng thâm canh gỗ lớn, nhằm không ngừng phát triển diện tích rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh, để tương xứng với tiềm năng sẵn có tại địa phương”.

                                                                          

                                                                                Dương Đại Tiến

 
 
 
 

PHỐI HỢP TĂNG CƯỜNG QLBVR, QUẢN LÝ LÂM SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN.

            Căn cứ quy chế phối hợp giữa Chi cục Kiểm lâm vùng 1 và Chi cục Kiểm lâm Điện Biên trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh Điện Biên giai đoạn 2015-2020;

           Để tăng cường lực lượng tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên trong dịp cuối năm 2017.

           Chi cục Kiểm lâm vùng I, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Điện Biên và UBND huyện Tủa Chùa đã thống nhất tăng cường lực lượng phối hợp theo Kế hoạch số 148/KH-UBND và Quyết định số 2919/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND huyện Tủa Chùa về việc thành lập tổ công tác liên ngành, tăng cường lực lượng tuần tra, kiểm soát, phát hiện xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

          Thực hiện Kế hoạch phối hợp, Đoàn công tác của Chi cục Kiểm lâm vùng I phối hợp với tổ công tác liên ngành huyện Tủa Chùa đã tổ chức kiểm tra các tuyến đường vận chuyển, kiểm tra các địa điểm nghi có cất giấu lâm sản trái phép trên địa bàn huyện Tủa Chùa và khu vực giáp ranh với huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; từ ngày 05/12 đến ngày 27/12/2017 đã phát hiện 04 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng:

          - Thứ nhất đã thu giữ 25 lóng gỗ Nghiến dạng thớt = 0,149 m3 tại Bản Đun, xã Mường Đun, gỗ chưa có chủ nhận;

          - Thứ hai, đã kiểm tra lập hồ sơ xử lý vi phạm đối với bà Lò Thị Thởn sinh năm 1979 trú tại bản Hột, xã Mường Đun. Đối tượng đã có hành vi cất giữ lâm sản (gỗ) Nghiến nhóm IIa số lượng 37 lóng, khối lượng 0,216 m3 trái với quy định của pháp luật. Tịch thu tang vật gỗ và xử phạt VPHC 3.000,000, đồng;

          - Thứ ba, tuần tra tuyến đường sông khu vực giáp ranh giữa huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đã phát hiện, thu giữ 264 lóng gỗ Nghiến dạng thớt nhóm IIa = 1,452 m3 do ông Lù Văn Chính Sinh năm 1981 trú tại bản Hổi Pho, xã Cà Nàng, huyện Quỳnh Nhai cất giữ  trái pháp luật; đã bàn giao hồ sơ, tang vật để Hạt Kiểm lâm huyện Quỳnh Nhai – tỉnh Sơn La, xử phạt VPHC 15.000,000, đồng và tịch thu tang vật;

          - Thứ tư, tại thôn Pàng Nhang, xã Xá Nhè, đã phát hiện và tịch thu 06 lóng  gỗ Nghiến dạng thớt = 0,028 m3, gỗ chưa có chủ nhận. Phát hiện 01 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, tạm giữ phương tiện 01 xe máy mang biển kiểm soát 27T1- 003.95 và  06 thanh gỗ đinh vàng nhóm II, khối lượng = 0,046m3 (đang xác minh để xử lýtheo quy định của pháp luật).

Họp triển khai kế hoạch công tác ngày 01/12/2017 tại UBND huyện Tủa Chùa

Thu giữ gố nghiến dạng thớt

Nguyễn Liêm Chính – Chi cục Kiểm lâm vùng 1

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  43
Hôm nay:  112
Tháng hiện tại:  8066
Tổng lượt truy cập: 184850
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:033.3846768 -  Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn