Bảo tồn thiên nhiên DDSH

Giải pháp bảo tồn rừng nghiến trên hệ sinh thái rừng núi đá vôi tại các khu rừng đặc dụng

          Việt nam hiện có trên 1 triệu ha núi đá vôi, chiếm khoảng 7% diện tích đất Lâm nghiệp, trong đó có khoảng 0,6 triệu ha diện tích có rừng (chiếm 55%). Hầu hết diện tích rừng trên núi đá vôi được quy hoạch là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng trên núi đá vôi phân bố tập trung nhất ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.

Ảnh rừng nghiến trên núi đá vôi tại Khu BTTN Kim Hỷ- Bắc Kạn

          Hiện nay cả nước có 20 khu rừng đặc dụng là rừng núi đá vôi, với diện tích khoảng 0,32 triệu ha, chiếm 17,5% diện tích rừng đặc dụng toàn quốc. Do quá trình phong hóa diễn rư rất chậm và lâu dài, núi đá vôi tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và huyền bí gắn với bản sắc văn hóa của dân tộc chưa được khám phá hết đang thu hút hàng vạn khách tham quan và các nhà khoa học, là điểm hẹn của nhiều du khách về du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm và nghiên cứu khoa học.

          Rừng trên núi đá vôi thuộc kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh có tài nguyên thực vật và động vật khá đặc sắc, khác với nhiều kiểu rừng nhiệt đới trên núi đất của các khu rừng đặc dụng Việt Nam như: Hệ thực vật phong phú đa dạng về loài, nhiều loài có giá trị kinh tế, khoa học được ghi trong sách Đỏ Việt Nam như Nghiến, Hoàng Đàn, Mun sọc, Pơ mu, Kim giao,…Hệ động vật tương đối đa dạng, trong đó có hai bộ có tính đa dạng cao nhất là bộ Dơi và bộ Linh trưởng. Các loài tiêu biểu là Voọc mũi hếch, Voọc đầu trắng, Hươu xạ,…

          Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đã và đang đóng vai trò vô cùng quan trọng trong kinh tế, môi trường và nghiên cứu khoa học của nước ta. Tài nguyên rừng của các khu rừng đặc dụng trên núi đá vôi vốn rất phong phú và đa dạng nhưng ngày càng bị xâm hại, diện tích rừng bị thu hẹp, nhiều loài động, thực vật quý suy giảm về số lượng. Thảm thực vật rừng trên núi đá vôi bị suy giảm sẽ dẫn đến sự thay đổi tiểu khí hậu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của cộng đồng các dân tộc sống trong và quanh vùng núi đá.

          Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi là một hệ sinh thái đặc biệt rất nhạy cảm, có lịch sử địa chất lâu dài, được hình thành trên nền đất đặc biệt là đá vôi, điều kiện thuỷ văn thường là khô hạn, vì vậy nếu bị phá huỷ thì rất khó có thể khôi phục. Ở các vùng núi đá vôi có khu hệ sinh vật đặc thù, mang tính chỉ thị, đó là những nhóm loài ưa sống trong điều kiện khắc nghiệt.

          Sự tái sinh các loài cây trên núi đá vôi rất khó và sự sinh trưởng của chúng rất chậm chạp, loài Nghiến trên núi đá vôi mất hàng nghìn năm sau có được cây nghiến cổ thụ, việc khôi phục loài này là hết sức khó khăn. Các năm qua, tại một số khu rừng đặc dụng vẫn còn tình trạng khai thác trái phép nghiến, chủ yếu là khai thác nghiến dưới dạng thớt mang tiêu thụ như tại Vườn quốc gia Ba Bể, Khu BTTN Kim Hỷ (Bắc Kạn); Khu BTTN Phong Quang (Hà Giang); Khu BTTN Hữu Liên (Lạng Sơn); Khu BTTN Thần Sa - Phượng Hoàng (Thái Nguyên),...

Ảnh rừng nghiến trên núi đá vôi tại Khu BTTN Phong Quang – Hà Giang

          Theo Quyết định 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020, với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng trên đơn vị diện tích. Để bảo tồn rừng Nghiến trên núi đá vôi tại các khu rừng đặc dụng cần thiết tiến hành một số giải pháp chính sau đây:

          - Tổ chức mạng lưới bảo vệ rừng trong nhân dân tại các xã có diện tích rừng nghiến, bảo đảm cho những nơi có nguy cơ bị khai thác trái phép cần có người bảo vệ chuyên trách hợp lý, có chế độ đãi ngộ phù hợp. Điển hình tại Khu BTTN Văn Bàn – Hoàng Liên, giao khoán bảo vệ từng cây nghiến cổ thụ cho người dân địa phương, có chế độ đãi ngộ đối với các hộ được nhận bảo vệ cây nghiến.

          - Tăng cường đầu tư các chương trình, dự án nhằm tạo việc làm cho người dân sống trong, gần các khu rừng nghiến, giảm áp lực cho công tác quản lý bảo vệ rừng.

          - Tăng cường lực lượng, phương tiện, trang thiết bị cho các Ban quản lý rừng đặc dụng có rừng nghiến nhằm ngăn chặn hiệu quả tình trạng khai thác, vận chuyển trái phép nghiến dạng thớt trên địa bàn

          - Khoanh nuôi tái sinh tự nhiên loài Nghiến trên núi đá vôi, đồng thời giám sát, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, có thể khoán bảo vệ cho người cộng đồng dân địa phương (mô hình quản lý rừng cộng đồng).

          - Cần nâng cao đời sống cho người dân, giảm áp lực vào rừng, giảm tỷ lệ các hộ nghèo bằng các biện pháp cụ thể như: Tăng cường hỗ trợ vốn, cho vay để người dân có kế hoạch phát triển kinh tế lâu dài; tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ giống, kỹ thuật tới tận người dân để họ sử dụng tiền vốn vay có hiệu quả; tổ chức chuyển giao kỹ thuật cho người dân sống trong rừng, gần rừng; hỗ trợ cây giống đa mục đích cho người dân để họ trồng quanh khu gia đình nhằm mục đích lấy củi, lấy gỗ,... để phục vụ cuộc sống, giảm áp lực vào rừng.

          - Xử lý nghiêm các vụ vi phạm về khai thác, vận chuyển trái phép nghiến dạng thớt, đặc biệt xử lý các đầu nậu chuyên thu mua nghiến dưới dạng thớt.

          - Hoàn thiện cơ chế, chính sách cho các Ban quản lý rừng đặc dụng, tạo điều kiện về kinh phí, nhân lực để các Ban quản lý của các khu rừng hoạt động hiểu quả. Xây dựng ch­ương trình giám sát loài quý hiếm, đặc biệt là loài nghiến có giá trị bảo tồn nguồn gen và giá trị kinh tế cao.

Đặng Anh Quỳnh - Chi cục Kiểm lâm vùng I

 
 

DANH MỤC THỰC VẬT RỪNG, ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM

DANH MỤC

THỰC VẬT RỪNG, ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM

(Ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP

 ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ)

__________

NHÓM I: Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng

                  vì mục đích thương mại

I A. Thực vật rừng

TT Tên Việt Nam Tên khoa học
 

NGÀNH THÔNG

PINOPHYTA

1 Hoàng đàn Cupressus torulosa
2 Bách Đài Loan Taiwania cryptomerioides
3 Bách vàng Xanthocyparis vietnamensis
4 Vân Sam Phan xi păng Abies delavayi fansipanensis
5 Thông Pà cò Pinus kwangtungensis
6 Thông đỏ nam Taxus wallichiana (T. baccata wallichiana)
7 Thông nước (Thuỷ tùng) Glyptostrobus pensilis
  NGÀNH MỘC LAN MAGNOLIOPHYTA
  Lớp mộc lan Magnoliopsida
8 Hoàng liên gai (Hoàng mù) Berberis julianae
9 Hoàng mộc (Nghêu hoa) Berberis wallichiana
10 Mun sọc (Thị bong) Diospyros salletii
11 Sưa (Huê mộc vàng) Dalbergia tonkinensis
12 Hoàng liên Trung Quốc Coptis chinensis
13 Hoàng liên chân gà Coptis quinquesecta
  Lớp hành Liliopsida
14 Các loài Lan kim tuyến Anoectochilus spp.
15 Các loài Lan hài Paphiopedilum spp.

I B. Động vật rừng

TT Tên Việt Nam Tên khoa học
  LỚP THÚ MAMMALIA
  Bộ cánh da Dermoptera
1 Chồn bay (Cầy bay) Cynocephalus variegatus
  Bộ khỉ hầu Primates
2 Cu li lớn Nycticebus bengalensis (N. coucang)
3 Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus
4 Voọc chà vá chân xám Pygathrix cinerea
5 Voọc chà vá chân đỏ Pygathrix nemaeus
6 Voọc chà vá chân đen Pygathrix nigripes
7 Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus
8 Voọc xám Trachypithecus barbei(T. phayrei)
9 Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri
10 Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisi
11 Voọc đen Hà Tĩnh Trachypithecus hatinhensis
12 Voọc Cát Bà (Voọc đen đầu vàng) Trachypithecus poliocephalus
13 Voọc bạc Đông Dương Trachypithecus villosus (T. cristatus)
14 Vườn đen tuyền tây bắc Nomascus (Hylobates) concolor
15 Vượn đen má hung Nomascus (Hylobates) gabriellae
16 Vượn đen má trắng Nomascus (Hylobates) leucogenys
17 Vượn đen tuyền đông bắc Nomascus (Hylobates) nasutus
  Bộ thú ăn thịt Carnivora
18 Sói đỏ (Chó sói lửa) Cuon

   

Một số thành tựu, thách thức và các vấn đề trọng tâm trong công tác đấu tranh chống tội phạm liên quan đến động vật hoang dã năm 2010 của các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng và Lạng Sơn

Năm 2010, được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh ủy, UBND tỉnh, thành phố, Ban chỉ đạo những vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR và Sở Nông nghiệp & PTNT các tỉnh thành phố về công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học bảo vệ động vật hoang dã  như tiếp tục thực hiện chỉ thị số 12/2003/CT-TTg và chỉ thị số 08/2006/CT-TTg về tăng cường các biện pháp cấp bách về ngăn chặn phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép; các quyết định 95/2008/QĐ-BNN ngày 29/9/2008 về việc ban hành quy chế quản lý gấu.

Các tỉnh, thành phố đã ban hành một số văn bản liên quan đến công tác bảo vệ đa dạng sinh học và bảo vệ động vật hoang dã (ví dụ như Tỉnh Quảng ninh đã ban hành quyết định số 1700/2008/QĐ-UBND ngày 03/6/2008 về việc ban hành quy chế quản lý gấu tại Qảng Ninh). Tuy nhiên, các vi phạm pháp luật trong mua, bán, vận chuyển động vật hoang dã vẫn diễn ra phức tạp, thủ đoạn phạm tội và vi phạm ngày càng tinh vi, liều lĩnh, manh động, diễn ra ở cả 3 tỉnh thành phố nói trên.

Tại Quảng Ninh: Trong năm 2010, chi cục Kiểm lâm đã phối hợp với các ngành bắt giữ và xử lý 46 vụ vi phạm các quy định về mua, bán, vận chuyển động vật hoang dã các loại; trong đó: Xử lý hành chính 40 vụ, xử lý hình sự 06 vụ - 06 đối tượng; tịch thu 3.156,3 Kg động vật hoang dã quý hiếm các loại; tổng giá trị thu hồi là 1.284.792.000 đồng (Phạt hành chính 812.250.000đ, phát mại lâm sản: 442.442.000đ). Điển hình một số vụ như:

+ Hồi 16h30’ ngày 31/12/2009, phòng cảnh sát PCTP về môi trường công an tỉnh Quảng Ninh kiểm tra, bắt giữ vụ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, đang gắn biển kiểm soát 16H-3761 vận chuyển động vật rừng (155,5 Kg tê tê vàng) trái pháp luật và chuyển cho Đội Kiểm lâm cơ động &PCCCR số 1 xử lý theo quy định;

+ Trung tuần tháng 3/2010, các chiến sĩ cảnh sát giao thông của Công an Quảng Ninh đã kiểm tra và phát hiện xe ôtô mang biển kiểm soát 29X-... có chứa một lượng lớn ngà voi gồm 30 chiếc còn nguyên vẹn và 15 đoạn đã bị chặt rời giấu dưới sàn, cốp xe và trong nắp capô.

+ Hồi 11h 30 phút ngày 3/11/2010, phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường Công an tỉnh Quảng Ninh kiểm tra, bắt giữ và bàn giao cho Chi cục Kiểm lâm 1 xe ô tô gắn biển kiểm soát 29Y-0746. Chiếc xe này bị bắt giữ khi đang vận chuyển 52 cá thể tê tê vàng.

+ Ngày 24/8/2010, công an tỉnh Quảng Ninh đã bàn giao hồ sơ, tang vật vụ hút, bán mật gấu trái phép  tại công ty TNHH 1 thành viên TM và dịch vụ Việt Thái, xã Đại Yên, Thành phố Hạ Long, Quảng Ninh (Bắt giữ ngày 2/10/2009) sang chi cụ Kiểm lâm Quảng ninh để xử lý hành chính theo thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, chi cục Kiểm lâm tiến hành xác minh làm rõ đối tượng, mức độ vi phạm, đề xuất UBND tỉnh Quảng Ninh ra quyết định xử phạt hành chính số 2920/QĐ-UBND ngày 29/9/2010 xử phạt Nguyễn Thanh Nhượng, sinh năm 1972, địa chỉ thôn Đường ngang, xã Minh Thành, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh (là người tổ chức gây mê, hút mật gấu) với số tiền là 50.000.000 đồng và tịch thu 01 cá thể  gấu ngựa chuyển Trung tâm cứu hộ Sóc Sơn – Hà Nội.

Tuy nhiên do các văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều bất cập, điều chỉnh chưa kịp thời, có hành vi vi phạm nhưng chưa có chế tài xử lý ví dự như hành vi hút mật gấu nên việc quản lý bảo vệ động vật hoang dã còn gặp nhiều khó khăn.

Tại Lạng Sơn: Điển hình một số vụ như:

Vào hồi 11h ngày 7/4/2010, Công an thành phố Lạng Sơn bắt quả tang tại số nhà 212 đường Bà Triệu, phường Hoàng Văn Thụ, TP Lạng Sơn tàng trữ một số lượng lớn động vật hoang dã, gồm: 36,5kg rùa; 7,5kg rắn dọc dưa, rắn ráo; 5kg ba ba.

Hồi 15 giờ 45 phút ngày 13/12/2010, Phòng Cảnh sát Môi trường Công an tỉnh Lạng Sơn, phối hợp với Công an huyện Cao Lộc và Hạt Kiểm lâm huyện đã phát hiện, thu giữ 200 con họa mi, nhập lậu không rõ nguồn gốc

Tại Hải Phòng: Với vỏ bọc: “Tạm nhập tái suất” Trong tháng 5-2010, Hải quan Hải Phòng liên tiếp phát hiện, bắt giữ 4 vụ nhập lậu ngà voi. Cụ thể, vào ngày 6-5, Chi cục Hải quan Cảng phát hiện 2.194,2kg cất giấu trong lô hàng rong biển khô, có hành trình từ châu Phi đi Singapore rồi về Hải Phòng.

Lô hàng này do Cty xuất nhập khẩu Thanh Long - Quảng Ninh mở tờ khai hải quan, là mặt hàng tạm nhập tái xuất. Tiếp đó, ngày 13-5, Hải quan khu vực 3 lại phát hiện trong lô hàng rau câu khô do 1 chi nhánh Cty CP tại Hải Phòng mở tờ khai đã cất giấu 1.518,43 kg ngà voi thuộc hàng tạm nhập tái xuất.

Khoảng 2 tuần sau, ngày 25 và 28-5, Đội Kiểm soát Hải quan phát hiện liền 2 vụ, gồm 370 kg ngà voi cất giấu trong lô hàng 1 container vỏ ốc và 1.245,6 kg trong lô hàng rong biển khô. Cả 2 vụ này, đối tượng vẫn sử dụng chiêu bài "tạm nhập tái xuất", đưa ngà voi vàoHải Phòng để xuất sang nước thứ 3.

Theo phân tích của Hải quan Hải Phòng, việc buôn bán các hàng cấm dưới dạng tạm nhập tái xuất được các đối tượng coi là "thuận lợi" nhất bởi đây thường là hàng, không bị kiểm tra nghiêm ngặt, không phải nộp thuế (vì Việt Nam chỉ làm hợp đồng trung chuyển sang nước thứ 3). Đặc biệt, buôn bán hàng cấm như trên mang lại lợi nhuận rất cao.

Theo các chuyên gia động vật học, mỗi kg ngà voi ở Việt Nam có giá 5.000-7.000 USD, còn ở một số nước khác mỗi đôi ngà voi có giá 40.000-50.000 USD. Vì đó mà việc buôn bán ngà voi, tê tê… chỉ cần trót lọt vài vụ, mức thu lời sẽ là "siêu lợi nhuận" - đây cũng là lý do chính mà mặt hàng cấm này vào cảngHải Phòng ồ ạt, và thủ đoạn ngày càng tinh vi…

Thực tế trong các vụ nhập lậu hàng cấm mà Hải quan Hải Phòng phát hiện bắt giữ năm 2010 đến nay cho thấy, các đối tượng buôn bán luôn tìm cách xoá dấu vết, nguồn gốc của lô hàng. Lật lại hồ sơ các vụ thì thủ đoạn thường là cho hàng quá cảnh qua nhiều nước, tập kết một nơi nào đó trước khi vận chuyển vào châu Á rồi sang Việt Nam.

Ví như vụ phát hiện ngày 6-5-2010, thu giữ 2.194,2 kg ngà voi có hải trình thật phức tạp. Cảng xuất đầu tiên là Mombasa (Kenya) quá cảnh ở Nam Phi, rồi Hồng Kông trước khi về cảng Cái Lân (Quảng Ninh) mới chuyển tải về cảngHải Phòng. Bằng thủ đoạn như vậy, nếu lực lượng hải quan không xác minh, điều tra kỹ càng thì khó có thể biết được lô hàng này xuất xứ từ châu Phi.

Thêm vào đó, những lô ngà voi, tê tê đông lạnh, vẩy tê tê rất hay được cất giấu, nguỵ trang bằng cách bọc trong các bao tải chứa rong biển, rau câu khô, vỏ ốc, hoặc nếu lô hàng đó là gỗ thì chúng đưa vào lõi đóng kín như lô hàng gỗ nguyên vẹn chứ không phải hàng hoá khác. Cơ quan hải quan sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ mới phát hiện đó là ngà voi, vẩy tê tê nhập lậu. Vì chưa có máy soi container nên chủ yếu lực lượng hải quan chỉ phát hiện được bằng kinh nghiệm và nguồn tin từ nước ngoài.

Phát hiện bắt giữ đã là khó, việc xử lý đối tượng và tang vật lại càng khó khăn hơn. Nhiều vụ bắt giữ buôn lậu ngà voi, đã đề nghị khởi tố và xử lý hành chính, tuy nhiên, cơ quan điều tra chỉ khởi tố được vụ án mà không khởi tố được đối tượng. Vì tất cả các vụ sau khi bị phát hiện không một doanh nghiệp, cá nhân nào đứng ra nhận hàng, hoặc có mở tờ khai nhưng cũng viện lý do chối bỏ lô hàng.

Thực tế, ta chưa có đủ chứng cứ kết luận đơn vị, cá nhân đứng ra mở tờ khai là chủ nhân buôn lậu. Các đối tượng trong nước chỉ là người được thuê là thủ tục và vận chuyển hộ chứ "không biết" trong lô hàng đó có giấu hàng cấm.

Thêm vào đó, những lô ngà voi, tê tê đông lạnh, vẩy tê tê rất hay được cất giấu, nguỵ trang bằng cách bọc trong các bao tải chứa rong biển, rau câu khô, vỏ ốc, hoặc nếu lô hàng đó là gỗ thì chúng đưa vào lõi đóng kín như lô hàng gỗ nguyên vẹn chứ không phải hàng hoá khác. Cơ quan hải quan sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ mới phát hiện đó là ngà voi, vẩy tê tê nhập lậu. Vì chưa có máy soi container nên chủ yếu lực lượng hải quan chỉ phát hiện được bằng kinh nghiệm và nguồn tin từ nước ngoài.

Hiện nay có khoảng 200 loài động vật hoang dã, trong đó có hơn 80 loài động vật quý hiếm được kinh doanh sử dụng trên thị trường Việt Nam. Phần lớn các loài đó bị khai thác bất hợp pháp chủ yếu là rắn, kì đà, tê tê, rùa các loại, mèo rừng, hổ, bá, lợn rừng, hươu xạ, … Nhiều nhất vẫn là các loài rùa, rắn.

Theo công ước CITES trong số các loài hàng hóa buôn lậu, giá trị các loài động vật, thực vật hoang dã buôn bán bất hợp pháp thuộc loại cao nhất ( sau ma túy). Với lợi nhuận khổng lồ, các đối tượng buôn bán động vật hoang dã sử dụng nhiều hành vi giả mạo giấy tờ, lẩn trốn sự kiểm tra kiểm soát của cơ quan chức năng, thậm chí chống trả quyết liệt lực lượng thi hành công vụ.

Ước tính hàng năm có khoảng 4.000 đến 4.500 tấn động vật hoang dã buôn bán vận chuyển bất hợp pháp từ Việt Nam sang Trung Quốc. Trong đó, chủ yếu là các loài linh trưởng, gấu, tê tê, rùa, rắn, ngà voi, sừng tê giác và các thành phẩm, dẫn xuất của các loài động vật hoang dã. Phần lớn động vật được thu gom từ Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia chuyển sang Việt Nam và Trung Quốc, ước tính qua biên giới Việt Nam khoảng 2.500 – 3.000kg mỗi ngày.

Quảng Ninh và Lạng sơn là 2 tỉnh biên giới giáp Trung quốc (một quốc gia tiêu thu động vật hoang dã lơn trên thế giới nên việc kiểm soát các hành vi buôn bán động vật hoang dã qua biên giới cũng gặp rất nhiều khó khăn; việc phối kết hợp giữa các ngành trong bảo vệ động vật hoang dã có lúc chưa thật sự chặt chẽ…

Có thể nói các vi phạm pháp luật trong mua, bán, vận chuyển động vật hoang dã vẫn diễn ra phức tạp, thủ đoạn phạm tội và vi phạm ngày càng tinh vi, liều lĩnh, manh động và  thách thức là rất lớn vì thế để bảo vệ động vật hoang dã đòi hỏi phải phải kết hợp đồng bộ giữa hoàn thiện pháp luật và sự chung tay phối kết hợp chặt chẽ giữa các cấp các ngành và các tổ chức trong việc tăng cường kiểm soát các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã.

                                                                                                Ng.V.Tr

 
 

Nhà khách Kiểm Lâm

Liên kết - Quảng cáo

Thống kê Website

Đang truy cập:  40
Hôm nay:  127
Tháng hiện tại:  6671
Tổng lượt truy cập: 204613
Địa chỉ IP của bạn 14.167.180.217

CHI CỤC KIỂM LÂM VÙNG 1

Địa chỉ: Phường Hà Khẩu - TP Hạ Long - Quảng Ninh

Đường dây nóng: 0981197119 - Điện thoại:033.3846768 -  Email: kiemlamvung1@gmail.com

Thiết kế website bởi: Tech14.vn